1. Văn Xương Đế Quân

Đức Văn Xương Đế Quân 文昌帝君

với thần Chu Y 朱衣 (bên trái)

và thần Khôi Tinh 魁星 (bên phải).

Tóm tắt:

Có hai nguồn gốc xuất xứ về đức Văn Xương Đế Quân, một là: Văn Xương Đế Quân chính là nhóm sao Đẩu Khôi, gồm sáu ngôi sao xếp thành hình bán nguyệt nằm ở phía trước sao Bắc Đẩu, mỗi sao có một tên, quản về văn vận khoa danh; hai là: Văn Xương Đế Quân là một nhân vật có thực, tên là Trương Á (hoặc Trương Ác) sau khi thác có nhiều hiển linh và được phong làm thần Tử Đồng. Đến đời Nhân Tông nhà Nguyên (1316) thì phong thần Tử Đồng là “Phụ Nguyên khai hóa Văn Xương Tư lộc Hoằng nhân Đế quân”. Từ đó, dân gian kết hợp hai nguồn gốc này thành ra Văn Xương Đế Quân.

Về nguồn gốc thứ nhất, coi Văn Xương Đế Quân là một vị thần tinh tú, “Từ điển Nho Phật Đạo” giảng giải như sau:

“Văn Xương vốn là tên gọi chung của 6 sao Đẩu Khôi (gồm các sao Thượng tướng, sao Thứ tướng, sao Quý tướng, sao Tư mệnh, sao Tư trung, sao Tư lộc)([1]). Ngày xưa nói rằng Văn Xương là ngôi sao giữ về văn vận khoa danh, do đó được các Nho sinh sùng bái cúng tế. Bùi Đình Dụ viết trong cuốn Đông Quan tấu kỳ – Quyển hạ như sau: “Sao Văn Xương tối, khoa trường sẽ có chuyện”. Trong thơ văn thời Đường, thường lấy “Văn Xương” để gọi Thượng thư sảnh. Các nhà chiêm tinh cổ đại cho rằng Văn Xương là cát tinh, chủ đại quý, về sau được Đạo giáo coi là vị thần chúa tể công danh và lộc vị. Các sỹ tử đời xưa rất chú trọng cúng tế Văn Xương Đế Quân, coi đó là để bảo đảm công danh”. (hết lời trích)

Đó là lý giải về Văn Xương từ góc độ chiêm tinh – thiên văn.

Về nguồn gốc thứ hai, coi Văn Xương Đế Quân là một nhân thần, “Từ điển Nho Phật Đạo” giảng giải như sau:

“Đây là nguồn gốc có liên quan đến thần Tử Đồng, vốn là người có thật, họ Trương, tên Á Tử hoặc Ác Tử, ở núi Thất Khúc đất Thục, do bị ác chiến mà thác, được người dân lập miếu phụng thờ. Vua Đường Hi Tông (873-888) chạy vào đất Thục, vào trong miếu này, được Ngài bảo hộ, bèn phong Ngài là “Tế Thuận Vương”. Năm Hàm Bình (998-1003) đời vua Tống Chân Tông, được phong là “Anh Hiển Vũ Liệt Vương”. Đạo sỹ các thời Tống, Nguyên cho rằng được Ngài giáng bút nên làm ra cuốn Thanh Hà nội truyện, trong đó nói rằng Ngài sinh vào đầu thời Chu, trải qua 73 lần hóa, cuối thời Tây Tấn mới giáng sinh là Trương Á Tử ở Tứ Xuyên. Lại xưng là Ngọc Hoàng Đại Đế mệnh cho Ngài cai quản phủ Văn Xương và sổ lộc ở nhân gian. Năm Diên Hựu 3 đời Nhân Tông nhà Nguyên (1316) phong thần Tử Đồng là “Phụ Nguyên khai hóa Văn Xương Tư lộc Hoằng nhân Đế quân”.

Từ đó, Văn Xương và thần Tử Đồng hợp làm một, gọi là Văn Xương Đế Quân, là vị thần chủ tể về văn chương, giáo hóa ở cõi nhân gian.

Có đạo sỹ thời Nam Tống cho rằng được Văn Xương Đế Quân thiên khai, viết Văn Xương Đế Quân âm chất văn (gọi tắt là Âm chất văn). Tác phẩm này dựa vào tư tưởng “thiên nhân cảm ứng” và “nhân quả báo ứng” để hoằng truyền Nho giáo, Đạo giáo, và Phật giáo. Tác phẩm này cũng được đưa vào Đạo tạng tập yếuChiêu Đại tùng thư biệt tập. (hết lời trích)

Tác giả Lê Anh Minh ([2]) cũng có bài lược khảo về đức Văn Xương Đế Quân, về cơ bản giống như phần giảng giải của Từ điển Nho Phật Đạo, nhưng chi tiết hơn và có bổ sung thêm một vài điển tích, giai thoại. Chúng tôi xin trích dưới đây để chư vị rộng đường so sánh:

“Văn Xương Đế Quân được dân gian lẫn Đạo giáo tôn sùng là Thần chủ quản công danh phúc lộc của sĩ nhân.

Sự kiện Văn Xương Đế Quân được dân gian và Đạo giáo phụng thờ có liên quan đến thần Tử Đồng Trương Á Tử.

Đời Đông Tấn (317-420), năm Ninh Khang thứ 2 (374) triều vua Hiếu Vũ Đế [Tư Mã Diệu], một người nước Thục tên là Trương Dục tự xưng là Thục Vương, khởi nghĩa chống Phù Kiên và hy sinh. Dân chúng quận Tử Đồng (Tứ Xuyên) lập miếu thờ (gọi là Trương Dục từ) tại núi Thất Khúc, tôn Ngài là Lôi Trạch Long Thần.

Trên núi Thất Khúc cũng có một miếu thờ thần Tử Đồng Trương Á Tử. Vì hai miếu gần nhau, người đời sau mới gọi chung hai thần là Trương Á Tử hoặc Trương Á Tử Sĩ Tấn chiến một (Trương Á Tử, quan đời Tấn, chết trong chiến tranh).

Sự việc Trương Dục có chép trong Tấn Thư. Thần Trương Á Tử (cũng gọi Trương Ác Tử) được ghi chép trong Hoa Dương Quốc Chí, quyển 2: “Tử Đồng huyện, quận trị, hữu Thiện Bản tự, nhất danh Ác Tử” (huyện Tử Đồng là một quận trị có miếu Thiện Bản, một tên khác là Ác Tử).

Trong dân gian thường truyền nhau sự hiển linh thần dị của thần Tử Đồng Trương Á Tử.

Thái Bình Hoàn Vũ Ký quyển 84 mục Kiếm Châu Tử Đồng huyện có trích dẫn Quận Quốc Chí rằng: Xưa Ác Tử đến Trường An gặp Diêu Trường bảo rằng: – 9 năm sau, người phải vào Thục, nếu đến núi Thất Khúc huyện Tử Đồng, may mắn thì tìm gặp ta”.

Thập Lục Quốc Xuân Thu Tập Bổ – Hậu Tần Lục ghi rằng: “Năm Kiến Nguyên thứ 12 [tiền Tần, 376], Diêu Trường đến núi Thất Khúc ở huyện Tử Đồng, gặp một thần nhân bảo rằng: “Ngươi hãy sớm quay về Tần, Tần không có chủ, chẳng phải chủ ở nơi ngươi sao?”. Trường xin hỏi danh tánh, người đó đáp: “Trương Ác Tử đây”. Nói xong thì chẳng thấy người đó. Đến lúc Tần xưng đế, nơi nầy lập miếu Trương tướng công mà thờ”.

Khi loạn An Lộc Sơn nổi lên, Đường Huyền Tông lánh nạn chạy vào đất Thục, trên đường đi ngang núi Thất Khúc, nghĩ đến Trương Á Tử anh liệt kháng Tiền Tần, bèn dừng chân vái lạy. Tương truyền khi tá túc tại núi Thất Khúc, Huyền Tông mộng thấy Trương Á Tử hiển linh mách rằng, không bao lâu nữa, Huyền Tông sẽ trở thành Thái Thượng Hoàng. Hiện nay trên núi Thất Khúc còn dấu tích “Ứng mộng tiên đài” của Đường Huyền Tông.

Năm Quảng Minh thứ 2 đời Đường, Hy Tông lánh loạn Hoàng Sào vào Thục, đi ngang núi Thất Khúc cũng vào vái lạy, truy phong Trương Á Tử là Tế Thuận Vương và cởi bội kiếm tặng cho Thần.

Thần Tử Đồng Trương Á Tử vì được các vua Đường sùng bái, thanh danh lan truyền xa, từ một vị Thần địa phương trở thành một đại thần khắp Trung quốc.

Năm Hàm Bình thứ 3 (1000) triều vua Tống Chân Tông (trị vì 998-1023) (Bắc Tống), Đô Ngu Hầu ở Ích Châu là Vương Quân nổi loạn, thần Tử Đồng linh hiển trợ giúp vua diệt quân phiến loạn. Tống Chân Tông bèn sắc phong Trương Á Tử là Anh Hiển Vũ Liệt Vương, đồng thời cho tu bổ miếu thờ.

Đời Nam Tống, năm Thiệu Hưng thứ 10 (1140), vua Tống Cao Tông (trị vì 1127-1162) cho đại tu Tử Đồng Thần miếu và sắc phong miếu thờ là Linh Ứng Từ.

Vua Tống Quang Tông (trị vì 1190-1194) truy phong Trương Á Tử là Trung Văn Nhân Vũ Hiếu Đức Thánh Liệt Vương. Tống Lý Tông (trị vì 1225-1264) truy phong Trương Á Tử là Thần Văn Thánh Võ Hiếu Đức Trung Nhân Vương.

Đời Nguyên, năm Diên Hựu thứ 3 (1316), vua Nhân Tông (trị vì 1312-1320) sắc phong Trương Á Tử là Phụ Nguyên Khai Hóa Văn Xương Tư Lộc Hoằng Nhân Đế Quân và khâm định là Trung Quốc Hiếu Gia Ích Dân Chính Trực Thần.

Kể từ đó, thần Tử Đồng và sao Văn Xương được hợp nhất thành một danh xưng là Văn Xương Đế Quân.

Từ đời Tống rất thịnh hành vô số câu chuyện linh dị kể lại thần Tử Đồng hiển linh phù hộ các sĩ tử thi đậu làm quan, cho nên việc phụng thờ Ngài càng thêm thịnh.

Đời Nam Tống, Ngô Tự Mục trong quyển Mộng Lương Lục thứ 14 chép rằng Tử Đồng Đế Quân tại đạo quán Thừa Thiên ở Ngô Sơn là thần nước Thục, chuyên nắm giữ lộc tịch (sổ sách về quan lộc) của con người, nói chung các sĩ tử bốn phương đi thi cầu danh đều xin Ngài ban phúc. Ngài được phong là Huệ Văn Trung Vũ Hiếu Đức Nhân Thánh Vương.

Cuối đời Nam Tống, các châu và phủ đều lập nhiều miếu thờ Tử Đồng Đế Quân. Như vậy, những tượng thờ Văn Xương Đế Quân trong các chùa miếu và đạo quán ngày nay tức là tượng Tử Đồng Đế Quân.

Đạo giáo đã sớm có tín ngưỡng Văn Xương, trong Lão Quân Âm Tụng Giới Kinh chép: “Phụ trách tuyển chọn phẩm hạng dân chúng, ghi danh vào cung Văn Xương”.

Đến đời Nguyên (1279-1368) và đời Minh (1368-1644) các đạo sĩ lợi dụng tín ngưỡng dân gian về Văn Xương Đế Quân mà viết ra “Thanh Hà Nội Truyện”“Tử Đồng Đế Quân Hóa Thư” kể lại những thần tích của Văn Xương Đế Quân.

Sách viết rằng:

“Văn Xương Đế Quân vốn sinh đầu đời Chu (Châu), đã trải 73 kiếp hóa thân, từng là sĩ đại phu. Cuối đời Tây Tấn, Ngài giáng sinh tại đất Thục tên là Á, họ là Trương, tự là Bái Phu, được lệnh Ngọc Hoàng Thượng Đế cho chưởng quản Văn Xương Phủ và lộc tịch (sổ sách về quan lộc) của nhân gian.”

Kinh Đạo Tạng Tập Yếu thu thập quyển Văn Xương Đế Quân Bản Truyện viết vào những năm Sùng Đức (1638-1648) đời Thanh, trong đó ghi rằng:

“Văn Xương Đế Quân họ là Trương, húy là Thiện Huân, có những thần tích linh dị, phàm nhương tai khử họa, đảo vũ, cầu tự, hễ có thành tâm tất có ứng nghiệm, có thể trấn phục yêu ma, tảo trừ dịch bệnh. Ngài được gọi là Văn Chương Tư Mệnh, vì các giới quí tiện văn võ y bốc sĩ nông công thương, hễ có lòng mong cầu công danh đều trông cậy vào Ngài. Ngài cư ngụ ở cung Văn Xương, nơi chòm sao Tử Vi, thường giáng cơ viết kinh, hiển mộng báo tin, phân thân ứng hóa, cứu độ nhân sinh.”

Trong Tử Đồng Đế Quân Hóa Thư (do Đàm Tiễu viết đầu thế kỷ thứ 10) tóm lược 17 kiếp của Văn Xương Đế Quân nhưng nội dung hết sức hoang đường. Có lẽ sáng tác này của đạo sĩ Đàm Tiễu muốn củng cố và chuyển tín ngưỡng Văn Xương Đế Quân từ một tín ngưỡng dân gian sang tín ngưỡng của Đạo giáo.

Trong Đạo Tạng và Đạo Tạng Tập Yếu thu thập rất nhiều kinh sách do Văn Xương Đế Quân giáng cơ bút, trong đó thịnh hành nhất kể từ đời Tống và đời Nguyên là Văn Xương Đế Quân Âm Chất Văn. Tác phẩm này tuyên xưng: “Văn Xương Đế Quân cứu nạn dân chúng, giúp người trong khốn khó nguy cấp, xót thương kẻ bơ vơ, khoan dung lỗi lầm của thế nhân, [ai] thi hành rộng khắp âm chất được đặc cách lên trời [ghi tên trong Tiên tịch]”.

Đồng thời khuyến dạy người đời: “Thường thi hành tiện ích, tạo vô vàn công đức vô hình, ích lợi cho người cho vật, tu thiện tu phúc, chính trực thay Trời hành hóa đạo đức, từ ái vì nước cứu dân, trung vua hiếu cha mẹ, kính trọng huynh trưởng, tin cậy bằng hữu. Hoặc thờ Tiên tu đạo, hoặc bái Phật niệm kinh, để báo đáp bốn ân ([3]) và quảng hành Tam giáo”. Văn Xương Đế Quân Âm Chất Văn là một trong tam đại khuyến thiện thư của Đạo giáo, có ảnh hưởng rất lớn trong dân gian.

Từ đời Nguyên và đời Minh về sau, các địa phương ở Trung quốc kiến tạo rất nhiều cung và đền miếu thờ Văn Xương Đế Quân (gọi là Văn Xương Cung, Văn Xương Từ, Văn Xương Các) nguy nga, hiện nay vẫn còn.

Đài Loan hiện có 29 miếu thờ Văn Xương Đế Quân.

Tại Việt Nam, Văn Xương Đế Quân được thờ tại đền Ngọc Sơn, Hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội, kể từ khi đền được trùng tu năm Thiệu Trị thứ nhất (1841). Ngoài ra Ngài còn được thờ trong nhiều chùa miếu của người Hoa. Đạo giáo lấy ngày 3 tháng 2 âm lịch làm ngày lễ đức Văn Xương Đế Quân.

Khi Văn Xương Đế Quân du hành, có hai vị tùy tùng là Huyền Đồng Tử (Thiên Lung: Trời điếc) và Địa Mẫu (Địa Á: Đất câm). Hai tùy tùng có nhiệm vụ biệt lập về hành chính, phụ giúp Văn Xương Đế Quân. Để giữ công bằng và bí mật, Thiên Lung không thể lắng nghe những lời van xin cầu khẩn của thế nhân, Địa Á không thể tiết lộ cho họ những dự định của Đế Quân”. (hết lời trích)

Ngoài ra, tác giả Hoàng Giáp trong bài “Một vài từ Hán có ý nghĩa tôn giáo sâu xa tại đền Ngọc Sơn”, đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 1/1998, cũng có giải thích về Văn Xương Đế Quân, về cơ bản là giống với hai cách giải thích trên. Chúng tôi cũng xin cung cấp dưới đây để chư vị tham khảo thêm:

“Trong đền Ngọc Sơn có hai nơi đề Văn Xương Đế Quân: thứ nhất là biển gỗ bên trái dưới tượng Văn Xương Đế Quân, thứ hai là bài vị trên bệ thờ cao nhất trước tượng Văn Xương Đế Quân. Nếu dịch ta chỉ có thể để nguyên âm Hán: Văn Xương Đế Quân. Để hiểu về Văn Xương Đế Quân, Ban Quản lý di tích và danh thắng Hà Nội đã viết tóm tắt tiểu sử thần Văn Xương. Nội dung ấy phù hợp với chú thích trong Tuyển tập văn bia Hà Nội: “Tử Đồng Đế Quân (Văn Xương Đế Quân) chính tên là Trương Á Tử người đời Tấn, sau khi chết hiển linh được nhiều người thờ cúng. Đạo gia cho rằng Tử Đồng Đế Quân coi việc ở phủ Văn Xương và giữ sổ tước lộc của nhân gian”.

Để hiểu Văn Xương Đế Quân, trước tiên ta cần tìm hiểu từ Văn Xương. Các sách như Từ Hải, Nho Phật Đạo bách khoa từ điển, Âm chất văn chú chứng đều dựa vào Thiên quan thư trong Sử ký của Tư Mã Thiên để giải thích: Sao Đẩu có 6 sao gọi là cung Văn Xương, một là Thượng Tướng, hai là Thứ Tướng, ba là Quý Tướng, bốn là Tư Mệnh, năm là Tư Trung, sáu là Tư Lộc. Sao Thượng Tướng và sao Thứ Tướng chủ về võ bị. Sao Quý Tướng chủ về văn học. Sao Tư Trung và Tư Lộc chủ về khen thưởng ban tước lộc. Sao Tư Mệnh chủ về trừng phạt gây tai họa.

Đạo giáo tôn sùng Văn Xương thành Văn Xương Đế Quân hay Tử Đồng Đế Quân. Từ “Đế Quân” chẳng qua chỉ là tôn hiệu của thần mà thôi. Thế là Văn Xương từ một cung gồm 6 sao, qua lăng kính của tôn giáo đã trở thành vị thần trông coi cung Văn Xương. Đã là thần thì có ngày sinh, ngày hóa, cũng cân đai mũ mão, cũng ái ố hỉ nộ. Đạo giáo đại từ điển và Âm chất văn chú chứng đều nói: Đầu thời Chu, Văn Xương Đế Quân giáng sinh vào nhà Trương ẩn đất Cối Kê tên là Trương Thiện Huân. Thời Chu Lệ Vương, giáng sinh vào nhà Trương Vô Kỵ gọi là Trương Trọng Tự. Thời Tấn, giáng sinh vào nhà họ Trương ở Kim Mã Sơn gọi là Trương á (Trương á Tử). Thời Tống, giáng sinh vào nhà họ Trương gọi là Trương Tuấn. Sau thời Tống, không thấy Văn Đế giáng sinh nữa (Đạo giáo do Trương Đạo Lăng sáng lập nên các thần của Đạo giáo nhiều vị mang họ Trương).

Đạo giáo phát tích ở đất Ba Thục nên đền thờ Văn Xương được xây dựng đầu tiên tại phía bắc Thành Đô gọi là Thanh Hư quán. Cũng ở huyện Tử Đồng đất Ba Thục còn ngôi đền thờ Tử Đồng Đế Quân. Tử Đồng Đế Quân là thần của Ba Thục, thần bảo vệ cho dân địa phương. Trong quá trình dung hợp tôn giáo, dân Ba Thục gộp Văn Xương và Tử Đồng làm một gọi là Văn Xương Đế Quân hay Tử Đồng Đế Quân.

Thời Đường, Tống, đền thờ Văn Xương Đế Quân phổ biến ở nhiều nơi. Tương truyền kẻ sĩ đi thi ngang qua đền thờ Văn Xương Đế Quân nếu gặp mưa thì đỗ Tiến sĩ. Các quan đại phu đi ngang qua đền thờ Văn Xương Đế Quân nếu gặp mưa thì làm Tể tướng. Vương An Thạch do đi qua đền thờ Văn Xương Đế Quân gặp mưa nên làm đến Tể tướng.

Thời Minh, nơi nào mở trường dạy học đều xây đền thờ Văn Xương Đế quân. Thời Thanh quy định ngày sinh của Văn Xương Đế quân là ngày 3 tháng 2. Hàng năm cứ vào ngày này các đền quán thờ Văn Xương Đế Quân lại mở hội tế lễ rất linh đình”. (hết lời trích)

Nhà Hà nội học Nguyễn Vinh Phúc trong cuốn Hồ Hoàn Kiếm và Đền Ngọc Sơn khi viết về Văn Xương Đế Quân cũng cho biết:

“Văn Xương, ngay ở Trung Quốc cũng có nhiều cách giải thích. Theo sách Từ Nguyên, Văn Xương là tên vùng đất, tên sao, và tên vị thần. Vùng đất là huyện Văn Xương ở phía nam tỉnh Quảng Đông. Chòm sao có tên Văn Xương cung gồm các sao Đẩu, Khôi, Dực, Khuông v.v… Đó là cát tinh, chủ sự đại quý. Văn Xương còn là tên một vị thần mà người ta quen gọi là Văn Xương Đế Quân hoặc Tử Đồng Đế Quân. Về lai lịch vị thần này, có nhiều sách nói khác nhau. Sách Trà hương thất tùng sao thì cho là Văn Xương từng làm Thái thú quận Ích Châu, đời Hán Kiến Vũ (25-55 sau CN) được tôn làm Tử Đồng văn quân. Sách Dư địa kỷ thắng lại cho đó là Trương Dục, người đất Thục, chống giặc Phù Tần và chết ở đất Tử Đồng năm Tấn Ninh Khang thứ 2 (374 sau CN). Sách Minh sử lại nói đó Trương Á Tử, ở núi Thất Khúc nước Thục, chết trận thời nhà Tấn (thế kỷ thứ IV). Đến đời Đường (618-905) và cả đời Tống (960-1279) ông được phong đến tước Anh Hiển Vương. Những người theo Đạo giáo cho rằng Tử Đồng được thượng đế giao cho làm chủ cung Văn Xương và giữ lộc tịch (tức sổ lộc ban phát cho trần gian). Triều Nguyên (1277-1367) phong là Đế Quân và cho thờ ở các trường học trong nước”. (hết lời trích)

Tham khảo cuốn Nhân quả báo ứng (được cho là sách Thái Thượng Cảm Ứng Thiên, tương truyền do Văn Xương Đế Quân giáng bút, do Đại đức Thích Minh Đức dịch, NXB Phương Đông 2006) có chuyện Quan tốt được phong Văn Xương Đế Quân, cụ thể như sau:

“Vào thời nhà Tấn, ở Trung Quốc có một vị Đại quan tên là Trương Á, người tỉnh Triết Giang. Nhân vì vào thời ngày xưa giáo dục chưa được phổ cập, cho nên ông ta nghĩ rằng công việc dạy người học chữ, khuyên người hành thiện là công việc có ý nghĩa nhất. Vì thế bèn xin từ quan, trước hết ông về Tứ Xuyên dạy người biết chữ, đọc sách. Để công việc được thực hiện rộng rãi khắp nơi, ngoài việc hàng ngày khuyên người làm thiện, ông còn viết rất nhiều sách chỉ bày phương cách hành thiện lưu truyền hậu thế. Sau khi ông qua đời, rất nhiều học trò đã thọ ân dạy bảo của ông bèn đóng góp công của kiến tạo tòa miếu để ghi nhớ công ơn của ông. Về sau, Hy Tông hoàng đế của nhà Đường trong khi chạy nạn đến Tứ Xuyên thì gặp nguy hiểm, nghe nói đã được Trương Á hiển linh phò giúp hoàng đế bình yên vô sự. Nhân đó, sau khi trở về triều, Hy Tông hoàng đế sắc phong Trương Á là Tấn Vương, Văn Xương Đế Quân. Từ đó về sau, mọi người đều gọi Trương Á là Văn Xương Xương Đế Quân” (hết lời trích).

Như vậy, có thể thấy thông tin về xuất xứ của đức Văn Xương Đế Quân là khá phức tạp và không hoàn toàn thống nhất với nhau.

Về thời điểm tín ngưỡng thờ đức Văn Xương Đế Quân bắt đầu du nhập vào nước ta, chúng tôi tìm được nhiều nguồn thông tin khác nhau. Các nguồn thông tin này đưa ra ít nhất là hai cái tên khác nhau về người có công chính thức du nhập tục thờ Văn Xương Đế Quân vào nước ta; tuy nhiên cũng theo các nguồn thông tin ấy thì thời điểm du nhập tục thờ này vào nước ta là giống nhau. Cụ thể như sau:

Trong Truyện truyền kỳ Việt nam (Nguyễn Thành Long và Nguyễn Thái Bình sưu tầm và tuyển chọn, NXB Thuận Hóa 1999) có truyện Đền Trấn Võ, kể về việc thần Tử Đồng được rước về từ Trung Quốc và thờ tại đền Trấn Võ và đền Tử Đồng trên núi Hoàng Xá, xin trích một phần dưới đây:

“Quan Thượng Mỗ người làng Hoàng Xá khi đi sứ Trung Hoa có rước pho tượng Tử Đồng Đế Quân về nước tạm đặt ở tiền đường đền Trấn Võ (Quán Thánh, Hà nội), sau lại thiên lên đỉnh núi Hoàng Xá. Rồi thấy đức Tử Đồng giáng bút nói rằng: – An Nam là nước văn hiến, ta sẽ lấy những ngày 1 tháng 6 ứng mộng cho các học trò. Nguyên tượng thì phải trả về Trung Hoa.

Chợt thấy có thuyền của người Trung Hoa sang, đi tìm hỏi pho tượng ấy. Quan Thượng cho trả về, rồi nhân ở chỗ di tích ấy, tạc tượng mới thờ phụng. Nay ở trước đền Trấn Võ, về bên phía tả, pho tượng đội mũ phốc đầu mặc áo bổ phục, chính là pho tượng ấy. Gặp năm có khoa thi hội, sỹ tử bốn phương nhiều người tắm gội ăn chay sạch sẽ, đến đền cầu mộng, báo ứng rất nghiệm. Tại đền trên núi Hoàng Xá cũng vậy”. (hết lời trích)

Vì đây là truyện truyền kỳ nên mang nhiều tính huyền ảo, có vẻ khó tin, vì vậy chúng tôi xin nêu thêm một số tư liệu khác:

Sách Đại Nam nhất thống chí ([4]), mục về tỉnh Sơn Tây, viết về đền Tử Đồng Đế Quân trên núi Hoàng Xá, huyện Quốc Oai như sau:

“Đền Tử Đồng Đế Quân ở sơn phận xã Hoàng Xá huyện Yên Sơn (tức huyện Quốc Oai ngày nay). Thần họ Trương, húy là A (hoặc Á), người Việt ([5]), sinh ở đời Tấn (265-420), sau dời đến ở đất Tử Đồng thuộc Thục quận. Lúc trẻ thi đỗ, là danh sư đất Thục. Sau khi mất, học trò lập đền thờ, đề là “Văn Xương từ”. Khi Đường Minh Hoàng tránh giặc (An Lộc Sơn) chạy vào đất Thục, thần hiển linh giúp sức. Giặc yên tấn phong vương hiệu, sau gia phong Đế hiệu. Đời Lê Hồng Đức (1470-1497), Thượng thư Nguyễn Địch Tâm ([6]) sang sứ Trung Quốc xin được tượng thần đem về lập đền thờ ở xã Hoàng Xá. Về sau, học trò đi thi, đến cầu báo mộng thường được ứng nghiệm. Bản triều năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) phong Thượng đẳng thần”. (hết lời trích)

Tác giả Nguyễn Thế Long ([7]) trong cuốn Đình và Đền Hà nội viết:

“Văn Xương Đế Quân là vị thánh của Đạo giáo, được thờ ở Trung Quốc. Đến đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497), Nguyễn Công Định đi sứ Trung Quốc đem tượng thánh về thờ chung với Huyền Thiên Trấn Vũ ở Trấn Vũ Quán (Quán Thánh). Đến năm 1843, Hội Hướng Thiện mới rước từ Trấn Vũ Quán về thờ ở đền Ngọc Sơn”. (hết lời trích)

Trong bài “Một vài từ Hán có ý nghĩa tôn giáo sâu xa tại đền Ngọc Sơn”, đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 1/1998, tác giả Hoàng Giáp viết:

“Trong cuốn Trấn Vũ quán lục, Thanh Hòa Tử chép: Vào năm Quang Thuận triều Lê Thánh Tông (1460 – 1469) Nguyễn Công người làng Hoàng Xá huyện Yên Sơn, tỉnh Sơn Tây (Hà Tây) đi sứ Trung Quốc qua đền Văn Xương Đế Quân đem tượng Đế Quân về thờ tại Trấn Vũ quán Hà Nội. Sau đó lại đem tượng thần về quê lập đền phụng thờ”. (hết lời trích)

Từ các thông tin trên, có thể thấy rằng, chỉ có một người mang tượng Tử Đồng vào nước ta. Đây phải là người đầu tiên làm việc này. Chúng tôi không dám lạm bàn về tên này là gì: Nguyễn Công (Định) hay Nguyễn Địch Tâm, nhưng từ các thông tin trên có thể khẳng định rằng đây là người quê gốc làng Hoàng Xá, huyện Quốc Oai.

Tuy nhiên, điều chúng tôi muốn nói ở đây là thời điểm chính thức du nhập tục thờ Văn Xương Đế Quân vào nước ta. Với các nguồn thông tin trên, chúng tôi suy luận rằng đức Văn Xương Đế Quân bắt đầu được chính thức thờ tại nước ta vào nửa cuối thế kỷ 15. Chúng tôi cho rằng suy luận như vậy là có lý, vì ngay ở Trung Quốc thì tới năm Diên Hựu 3 đời Nhân Tông nhà Nguyên (1316) thì mới phong thần Tử Đồng là “Phụ Nguyên khai hóa Văn Xương Tư lộc Hoằng nhân Đế quân”, và từ đó mới có danh xưng Văn Xương Đế Quân.

Cũng từ các thông tin trên, chúng tôi suy luận rằng, Quán Thánh (Hà nội) và đền Tử Đồng Đế Quân trên núi Hoàng Xá, huyện Quốc Oai (cũng gọi là đền Thượng) chính là hai địa điểm đầu tiên ở nước ta chính thức thờ Văn Xương Đế Quân, đều bắt đầu vào khoảng cuối thế kỷ 15.

Chúng tôi xin được biên vào đây đôi câu đối để tỏ lòng thành kính với đức Văn Xương Đế Quân:

Giúp Trời tạo tác kỳ công đức

Hộ dân giáo dục tối thiện lương


([1]) Cụ thể, sao Thượng tướng chủ về uy vũ, sao Thứ tướng chủ về tả hữu, sao Quý tướng chủ về văn tự, sao Tư mệnh chủ về tai ách, sao Tư trung chủ về lý lẽ, sao Tư lộc chủ về thưởng công phong quan. Theo tác giả Hoàng Giáp trong bài “Một vài từ Hán có ý nghĩa tôn giáo sâu xa tại đền Ngọc Sơn”, đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 1/1998 thì sao Thượng Tướng và sao Thứ Tướng chủ về võ bị; sao Quý Tướng chủ về văn học; sao Tư Trung và Tư Lộc chủ về khen thưởng ban tước lộc; sao Tư Mệnh chủ về trừng phạt gây tai họa.

([2]) Xem mục Sơ lược tiểu sử tác giả và nhân vật ở cuối sách.

([3]) Tứ Ân hay còn gọi là Tứ Ơn. Có nhiều thuyết. Có thuyết nói tứ ơn gồm: Ơn mẹ cha, Ơn chúng sinh, Ơn quốc vương và Ơn Tam bảo. Có thuyết nói tứ ơn gồm: Ơn cha mẹ, Ơn sư trưởng, Ơn quốc vương và Ơn thí chủ.

([4]) “Đại nam nhất thống chí” là bộ sách dư địa chí viết bằng chữ Hán, gồm 28 tập với 31 quyển, do Quốc sử quán triều Nguyễn thời Tự Đức biên soạn. Năm 1861, đã thảo xong “Đại Nam nhất thống dư đồ“, trên cơ sở đó hình thành bộ “Đại nam nhất thống chí“. Bộ sách được biên soạn từ 1864 – 75, bản thảo được hoàn thành năm 1882. Nội dung sách là địa chí từng tỉnh trong cả nước, có thêm phần Cao Miên, Xiêm La, Thuỷ Xá, Hoả Xá, Miến Điện (Myanma ngày nay), Nam Chưởng, Vạn Tượng. Mỗi tỉnh được trình bày theo các mục: phân dã, duyên cách, hình thể, khí hậu, phong tục, thành trì, hạc hiệu, hộ khẩu, điền phú, sơn xuyên, cổ tích, quan trấn (cửa ải và đồn biển), thị tập (chợ), tân lương (bến đập), để uyển, lăng mộ, từ miếu, đu quán, nhân vật, liệt nữ, tiên thích, thổ sản, giang đạo (đường sông), tân độ (bến đò). (Theo backhoatoanthu)

([5]) Việt: chỉ tỉnh Quảng Đông hoặc Quảng Tây (Trung Quốc).

([6]) Nguyễn Địch Tâm là văn thần đời Lê Thánh Tông (1442 – 1497), quê làng Hoàng Xá, huyện Ninh Sơn sau đổi là Yên Sơn, trấn Sơn Tây nay thuộc huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây. Năm Mậu Tuất 1478 ông đỗ nhị giáp tiến sĩ, 17 tuổi, đồng khoa với Vũ Quỳnh. Làm quan đến Thượng thư, gia phong hàm Thiếu bảo, tước An Quận Công. Ông có soạn quyển “Việt sử khảo giám”. Theo sách “Đại Việt lịch triều đăng khoa lục” và “Đăng khoa bị khảo” thì sách này nay đã thất lạc và các sách trên chỉ ghi lại nhan đề mà thôi (Theo“Trung tâm tri thức và cộng đồng học tập Việt nam”).

Bài viết “Việc khắc lại 12 bia tiến sỹ ở Văn Miếu -Hà nội” của Nguyễn Thúy Nga đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 2/2002 cũng cho biết quê quán của Nguyễn Địch Tâm như trên.

([7]) Xem mục Sơ lược tiểu sử tác giả và nhân vật ở cuối sách.

2 Responses to 1. Văn Xương Đế Quân

  1. Bách says:

    Em chào Bác chủ quản website, em đang làm chương trình về Sao Khuê và tục thờ Văn Xương Đế Quân, biết website này mà không tài nào tìm chỗ liên hệ được. Bác mà nhận được tin này, liên hệ giúp em với nhé, vì em muốn lên đền Thượng làm chương trình.
    em là Bách:
    ĐT: 0984,229,487
    Rất mong nhận được hồi âm sớm của bác ạ!
    p/s vì thứ 3 bọn em dự định làm chương trình rồi ạ!

    Like

    • Chúng tôi có cung cấp thông tin này trong mục “Đường tới đền Thượng”. Nhưng để tiện cho bạn, chúng tôi xin cung cấp ngay tại đây: bạn chỉ cần tới khu vực chùa Thầy, tốt nhất là tới tận chùa Thầy, hỏi thăm người dân đường tới đền Thượng là được chỉ tới tận nơi. Hoặc bạn hỏi thăm tới xóm Long Hương của thôn Thụy Khuê. Tới xóm Long Hương, bạn hỏi thăm tới đền Thượng thì sẽ được chỉ tới tận nơi. Đường đi rất dễ dàng.
      Cám ơn bạn đã quan tâm. Chúc bạn và gia đình hạnh phúc.

      Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s