5. Phạm Ngũ Lão

Trong giai đoạn từ khoảng nửa cuối thế kỷ 19 đến nửa đầu thế kỷ 20, rất nhiều thiện đàn cầu tiên được mở ra ở nhiều địa phương trên cả nước. Trong số các vị thánh thần thường xuyên giáng thơ tại các thiện đàn này có ngài Phạm Ngũ Lão. Điều này chứng tỏ ngài là một bậc linh thiêng và vẫn đầy ắp tâm sự vì nước thương nòi như thuở bình sinh.

“Việc ái quốc dùi mài trong dạ,
Chữ trung trinh vàng đá ghi lòng.
Cõi Nam bang quyết chí xoay vòng,
Trong cảnh thổ há dung quân tàm thực!”

(Kinh Đạo Nam)

Dưới đây chúng tôi xin trích giới thiệu sơ lược về ngài.

Phạm Ngũ Lão (1254-1320) là tướng nhà Trần trong lịch sử Việt nam. Ngài là người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, Hải Dương. Theo sách Tông phả kỷ yếu tân biên của Phạm Côn Sơn dẫn gia phả họ Phạm thì ngài là cháu 8 đời của tướng Phạm Hạp thời nhà Đinh.

Phù Ủng xưa thuộc tổng Huệ Lai, huyện Thiên Thi, trấn Sơn Nam Thượng (nay thuộc huyện Ân Thi, Hưng Yên) là vùng quê có từ lâu đời với một truyền thống văn hoá dày dặn. Ân Thi còn là quê hương của các văn nhân nổi tiếng: Nguyễn Trung Ngạn là đại thần của năm triều vua, Hàn lâm Trực học sĩ Nguyễn Khắc Trạch giữ chức Toản tu Quốc Tử Giám và để lại cho đời hàng ngàn bài thơ, văn.

Phạm Đình Hổ trong Vũ Trung Tùy Bút có kể lại chuyện Ngài ra mắt Hưng Đạo Đại Vương, đại ý như sau:

Hưng Đạo Vương cùng tuỳ tùng đi ngang qua Đường Hào thấy ngài ngồi bên vệ đường đang đan sọt. Quân lính kéo đến, dẹp lối đi. Ngài vẫn ngồi thản nhiên, như không để ý đến ai cả. Quân lính cầm giáo đâm vào đùi chảy máu mà ngài vẫn không nhúc nhích, thấy vậy Vương dừng lại hỏi, bấy giờ ngài mới trả lời rằng đang nghĩ một câu trong binh thư nên không để ý. Biết người có tài, Hưng Đạo Đại Vương cho ngài ngồi cùng kiệu đưa về kinh sư. Từ đó ngài trở thành môn khách của Hưng Đạo Đại Vương.

Trong hai cuộc kháng chiến chống quân xâm lược nhà Nguyên (1285-1288), ngài lập được nhiều chiến công. Năm 1285, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai, ngài cùng với Trần Quang Khải tiến đánh Chương Dương, Hàm Tử, đập tan đội binh thuyền khổng lồ của giặc và diệt quân Nguyên chiếm đóng Thăng Long. Sau đó, ngài được lệnh mang 3 vạn quân phục kích đánh địch ở Vạn Kiếp, chặn đường địch rút chạy lên biên giới phía bắc và diệt được hai phó tướng địch là Lý Quán và Lý Hằng.

Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba, ngài cùng các tướng bày trận phục kích đường rút lui của giặc trên sông Bạch Đằng, trong trận này quân nhà Trần bắt sống các tướng giặc Phàn Tiếp, Áo Lỗ Xích, Ô Mã Nhi. Ngài tiếp tục truy kích cánh quân của Thoát Hoan trên đường bộ.

Ngài đã bốn lần cất quân đi trừng phạt sự xâm chiếm, quấy nhiễu của quân Ai Lao, hai lần Nam chinh đánh thắng quân Chiêm Thành, buộc vua Chiêm là Chế Chí phải xin hàng.

Ngài được Hưng Đạo Đại Vương gả con gái (giả làm con gái nuôi của Hưng Đạo Đại Vương vì nhà Trần có quy định chỉ gả con gái trong dòng tộc) là quận chúa Anh Nguyên.

Năm 1290, vua Trần Nhân Tông giao cho ngài cai quản quân Thánh Dực, phong chức Hữu Kim ngô Đại tướng quân. Đến đời vua Trần Anh Tông, ngài được thăng tới chức Điện súy Thượng tướng quân, tước Quan nội hầu.

Ngài không chỉ có tài về quân sự, mà còn để lại nhiều bài thơ về chí trai, lòng yêu nước. Hiện nay tác phẩm của ngài chỉ còn lại hai bài là Thuật hoài (Tỏ Lòng)Vãn Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương (Viếng Thượng tướng quốc công Hưng Đạo Đại Vương).

Ngày 1 tháng 11 năm 1320, ngài mất, hưởng thọ 66 tuổi. Vua Trần Minh Tông nghỉ chầu 5 ngày. Đây là một đặc ân ở triều Trần.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư (bản kỷ, quyển 6, tờ 38 a – b) chép rằng:

Ngũ Lão xuất thân trong hàng quân ngũ nhưng rất thích đọc sách, sống phóng khoáng, có chí lớn thích ngâm thơ, xem qua có vẻ như không để ý đến việc võ bị nhưng quân do ông chỉ huy thực là đội quân trên dưới như cha con, hễ đánh là thắng”. 

Sử thần Ngô Sĩ Liên nói:

Tôi từng thấy các danh tướng nhà Trần như Hưng Đạo vương thì học vấn tỏ ra bài hịch, Phạm Điện Súy thì học vấn biểu hiện ở câu thơ, chứ không phải chỉ chuyên về nghề võ, thế mà dùng binh thì tinh diệu, hễ đánh là thắng, đã tấn công là chiếm được, người xưa cũng không một ai vượt nổi các ông. Lê Phụ Trần ([1]) thì dũng lược đứng đầu ba quân, một mình một ngựa xông pha trong trận giặc, tuỳ cơ ứng biến, chống đỡ cho chúa trong lúc gian nguy, mà tài văn học của ông đủ để dạy bảo thái tử. Đủ biết, nhà Trần dùng người, vốn căn cứ vào tài năng của họ để trao trách nhiệm….”

(theo Bách khoa toàn thư mở wikipedia)

Trong sách Lịch triều hiến chương loại chí, mục “Tướng có danh tiếng và tài giỏi”, phần về đời Trần, sử gia Phan Huy Chú chỉ chọn ra 4 vị tướng tài, trong đó xếp ngài tề danh cùng Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn, Trần Nhật Duật và Trần Khánh Dư.

Tại xã Phù Ủng có đền thờ ngài, do nhân dân dựng ngay trên nền nhà cũ của ngài. Ngài cũng được phối thờ tại đền Kiếp Bạc, Chí Linh, Hải Dương tại đền thờ Hưng Đạo Đại Vương. Đặc biệt, hàng năm, nhân dân xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, còn tổ chức lễ hội (từ 11 đến 14 tháng giêng, ngày chính là 11) để tưởng niệm ngày đầu tiên ngài ra quân đánh giặc.

Chúng tôi xin được biên vào đây đôi câu đối để tỏ lòng thành kính với ngài:

Nặng lòng vì nỗi tồn vong quốc

Keo sơn tự thế phụ tử binh


([1]) Xem mục Sơ lược tiểu sử tác giả và nhân vật ở cuối sách.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s