Phân tích theo quan điểm hiện tại của nhà đền

Xin nhắc lại danh tính các vị tứ phối theo quan điểm hiện tại của nhà đền như sau:

Như vậy, có thể thấy ở đây có hai điểm đặc biệt:

1)      Ngài Quan Bình và Chu Thương không đi làm một cặp phối thờ với Quan Thánh Đế, và vì vậy hai vị còn lại cũng không đi làm một cặp phối thờ với đức Văn Xương. Hoặc nói cách khác, theo quan điểm của nhà đền thì không sắp xếp bốn vị này theo kiểu phối thờ từng cặp;

2)      Xuất hiện ngài Phạm Ngũ Lão và một vị là Chu tướng quân (không rõ tên) trong tứ phối.

Về vị Chu tướng quân, chúng tôi có hai giả thiết đưa ra để chư vị tham khảo và nghiên cứu thêm:

1)      Phải chăng vị Chu tướng quân mà nhà đền nhắc tới chính là ngài Chu Thương?

Lý do chúng tôi đưa ra giả thiết này là: khi tham khảo cuốn Kinh Đạo Nam – thơ văn giáng bút của Vân Hương Đệ Nhất Thánh Mẫu và các vị nữ thánh (Đào Duy Anh khảo chứng, Nguyễn Thị Thanh Xuân phiên âm và chú thích, NXB Lao động, 2007), chúng tôi thấy có nhắc đến một số bài thơ giáng bút của ngài Chu Thương nhưng không gọi trực tiếp tên mà sử dụng danh xưng là Cổ tướng quân hoặc Chu tướng quân.

Tuy nhiên, nếu xét trên hình dáng tượng thì pho tượng ở vị trí số 6 chắc chắn là của ngài Chu Thương. Vì vậy, giả thiết này là không đúng vì không thể có chuyện ngài Chu Thương xuất hiện đồng thời trên cả hai vị trí.

2)      Phải chăng vị Chu tướng quân mà nhà đền nhắc tới chính là vị thần Chu Y trong quan điểm 3?

Riêng đối với ngài Phạm Ngũ Lão, chúng tôi cho rằng việc đưa ngài vào thờ phụng tại đền Thượng (nếu có) là thể hiện tính tự tôn dân tộc trong tín ngưỡng của người Việt hoặc chí ít là của cộng đồng địa phương trong một giai đoạn lịch sử nhất định.

Như chúng ta đã biết, trong lịch sử phát triển của dân tộc, có những giai đoạn mà tính tự tôn dân tộc được thể hiện rất mạnh mẽ, thông qua việc đưa các vị danh nho, anh hùng dân tộc của riêng nước ta vào hệ thống thờ tự cùng với các vị có xuất xứ từ Trung Quốc. ([1])

Mặt khác, Đạo giáo là tôn giáo mang tính lỏng rất cao, đặc biệt khi du nhập vào Việt nam và kết hợp với tín ngưỡng dân gian của người Việt. Vì vậy, việc có sự thay đổi trong nghi thức thờ phụng, về các vị được thờ phụng, là điều rất dễ xảy ra ở nơi này nơi khác.

Một điểm đáng lưu ý nữa là, trong khoảng thời gian từ nửa cuối thế kỷ 19 tới nửa đầu thế kỷ 20, phong trào yêu nước chống Pháp nổi lên mạnh mẽ nhưng vì có sự truy xét gắt gao của thực dân Pháp nên các hoạt động yêu nước hầu như không thể tiến hành một cách công khai. Một trong các biện pháp che mắt nhà cầm quyền lúc bấy giờ là tổ chức các hội Hướng thiện, giảng giải kinh sách của các bậc thần thánh, các anh hùng dân tộc, các nhà tiên nho, nhà văn hóa của nước ta, qua đó lồng vào tư tưởng yêu nước. Một phần rất lớn các kinh sách này là được soạn ra dưới hình thức giáng bút tại các thiện đàn mở ra trên hầu hết các tỉnh miền Bắc nước ta như Hà  Nội,  Nam  Định,  Hà  Đông,  Sơn  Tây,  Hải  Dương,  Bắc  Ninh,  Bắc  Giang,  Thái  Bình,  Thái Nguyên, Hải Phòng, Ninh Bình, Hưng Yên, Phúc Yên,….  Một ví dụ điển hình của các kinh sách giáng bút là cuốn Kinh Đạo Nam, được cho là các tác phẩm giáng bút của Thánh Mẫu Liễu Hạnh và các vị nữ thánh. Ngoài Thánh Mẫu Liễu Hạnh và các vị nữ thánh, còn có nhiều vị thần thánh khác như đức Văn Xương Đế Quân, Quan Thánh Đế Quân…, các anh hùng dân tộc như Đức Thánh Trần, đức Phạm Ngũ Lão, Hai Bà Trưng, Bà Triệu…, các vị tiên nho, các nhà văn hóa như ngài Phùng Khắc Khoan, ngài Tô Hiến Thành…. cũng có nhiều tác phẩm giáng bút với nội dung khuyên dạy điều lành và khích lệ lòng yêu nước.

Trong phong trào yêu nước đó, cũng có thể đền Thượng đã từng là một địa chỉ hoạt động của các nhà nho yêu nước mà hiện không còn thông tin lưu lại. Và vì vậy mà ngài Phạm Ngũ Lão đã được đưa vào thờ phụng tại đền Thượng.

Tuy nhiên, theo chúng tôi nếu cho rằng pho tượng ở vị trí số 5 là của ngài Phạm Ngũ Lão thì e rằng thiếu hợp lý, mà pho tượng này nên là của Quan Bình (tư thế tay nâng ấn của Quan Thánh Đế, nằm ở bên võ cùng Chu Thương ở vị trí số 6); và do vậy, vị trí số 3 mới là của ngài Phạm Ngũ Lão.

Về vị trí số 4, nhà đền cho biết đây là tượng Chu tướng quân (không phải Chu Thương), do vậy chúng tôi ngờ rằng có thể đó là do nhầm lẫn với danh tính của vị Chu Y theo quan điểm 3 (Chu Y và Khôi Tinh).

Tuy nhiên, nếu theo quan điểm 3 (Khôi Tinh và Chu Y) thì hình dáng pho tượng ở vị trí số 4 này cho thấy đây không phải là thần Chu Y mà là thần Khôi Tinh.

Dựa trên các suy luận đó, chúng tôi đưa ra sơ đồ danh tính của các vị tứ phối như sau:

Theo sơ đồ này, trong tứ phối có ngài Phạm Ngũ Lão nhưng không có vị “Chu tướng quân” như nhà đền nói mà thay vào đó là thần Khôi Tinh.

 


([1]) Có thể kể một số ví dụ tiêu biểu như: thời Trần bổ sung các nhà nho của Việt nam vào thờ tự cùng các vị người Trung Quốc tại Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà nội), gồm Chu Văn An (đưa vào thờ năm 1370), Trương Hán Siêu (đưa vào thờ năm 1371), và Đỗ Tử Bình (đưa vào thờ năm 1380). (Theo  bài tham luận Dấu ấn Việt hóa trong Nho giáo thời Trầncủa Đỗ Thị Hương Thảo (Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG Hà nội) tại Hội thảo quốc tế Việt nam học lần thứ III do Viện Khoa học Xã hội Việt nam (ĐHQG Hà nội) tổ chức, tháng 12/2008).

Tác giả Trần Mạnh Thường trong cuốn “Di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám”, NXB Lao động Xã hội, 2008, cũng cho thông tin tương tự.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s