a. Lời dẫn

Trước đây, chúng tôi chỉ hiểu nôm na rằng, chùa thuộc về Phật giáo, đình thờ Thành hoàng làng, miếu thờ thần, còn đền thuộc về Đạo giáo. Và hiểu như vậy thì đền Thượng là thuộc về Đạo giáo. Thế nhưng gốc gác của vấn đề thì quả tình chúng tôi không biết rõ.

Bởi vậy, chúng tôi sưu tầm một số tài liệu, trước hết để tự mình tìm hiểu thêm, sau đó là biên vào đây để nếu như có chư vị nào chưa nắm được thì may chăng có thể tìm thấy ở đây một vài thông tin bổ ích. Chúng tôi không có tham vọng tìm hiểu một cách cặn kẽ về Đạo giáo mà chỉ dám đưa ra một số thông tin cơ bản, nhằm phác họa một bức tranh tổng quát để có thể mường tượng được một số nét chính trong quá trình hình thành và phát triển của Đạo giáo, ở Trung Quốc cũng như ở Việt nam.

Trước đây, chúng tôi vẫn nghĩ rằng Lão Tử là ông tổ của Đạo giáo Trung Quốc, nhưng sau khi tìm hiểu mới vỡ ra rằng kỳ thực Trương Đạo Lăng, người sáng lập ra Thiên Sư đạo, mới đúng là ông tổ của Đạo giáo. Sau khi lập ra phái Thiên Sư đạo, Trương Đạo Lăng tôn Lão Tử thành tổ sư của Đạo giáo, với danh xưng là Thái Thượng Lão Quân. Đây cũng là lần đầu tiên danh xưng Thái Thượng Lão Quân được sử dụng.

Người ta vẫn cho rằng mục đích ban đầu của Đạo giáo là “tu tiên”, tuy nhiên, giáo phái đầu tiên của Đạo giáo là Thiên Sư đạo của Trương Đạo Lăng lại là giáo phái phù lục (phù thủy), thiên về sử dụng bùa chú, pháp thuật, cầu đảo, chứ không phải là giáo phái tu tiên. Thế mà giáo phái này truyền thừa đến 64 đời ([1]). Như thế thì đủ biết ảnh hưởng của Đạo giáo phù lục lớn đến mức nào.

Mặc dù vậy, ở Trung Quốc, Đạo giáo thần tiên (tu tiên, luyện nội đan) cũng phát triển rất mạnh, với vô vàn lý thuyết, phương pháp tu tập, kết hợp các phương pháp dưỡng sinh cổ đại của người Trung Quốc với các sáng tạo sau này của các đạo gia. Số nhân vật được cho là tu thành tiên ở Trung Quốc cũng khá nhiều.

Về Đạo giáo ở Việt nam, trước hết phải nói rằng Đạo giáo ở Việt nam hiện nay chỉ tồn tại dưới hình thức một tín ngưỡng, không phải là một tôn giáo. Theo Phan Ngọc ([2]) viết trong Bản sắc Văn hóa Việt nam, để được coi là tôn giáo, cần đáp ứng đủ ba tiêu chí: có học thuyết (kinh sách, giáo lý), có người dẫn dắt (như linh mục của đạo Thiên chúa chẳng hạn), có đông đảo quần chúng có tổ chức đi theo (như phật tử của Phật giáo). Đạo giáo ở Việt nam không đáp ứng đủ ba tiêu chí này. Mặt khác, tín ngưỡng Đạo giáo ở Việt nam được hòa quyện một cách nhuần nhuyễn vào tín ngưỡng thờ phụng thần thánh bản địa; và vì vậy, trong rất nhiều trường hợp, ranh giới giữa Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian là vô cùng mờ nhạt, khó có thể phân định. Cũng chính vì vậy mà đôi khi người ta đánh đồng hết mọi tín ngưỡng dân gian có sắc màu thần bí của Việt nam là Đạo giáo, và ngược lại nhiều người mặc dù thực hành những tín ngưỡng dân gian này nhưng lại hầu như chẳng biết Đạo giáo là như thế nào.

Việc hình thành và đặc điểm của Đạo giáo ở Việt nam chịu ảnh hưởng rất lớn từ Thiên Sư đạo của Trương Đạo Lăng do đạo này thống soái khu vực miền Tây Nam Trung Quốc, rất gần với Việt nam. Mặt khác, vì đây là Đạo phái phù lục nên rất phù hợp với tín ngưỡng dân gian của đại bộ phần quần chúng bình dân người Việt suốt từ cổ đại, vốn sùng bái quỷ thần. Nghĩa là, Đạo giáo ở Việt nam phần đông là Đạo giáo phù lục.

Cũng phải nói thêm rằng, tín ngưỡng thờ cúng thần linh, cầu đảo để giao tiếp với thần linh (gọi là vu thuật) không phải chỉ bắt nguồn từ Đạo giáo mà hầu hết ở quốc gia nào cũng có, nhất là trong thời kỳ cổ đại, khi con người mong muốn tìm sự che chở từ các thế lực siêu nhiên, hoặc giả khi đó con người còn hồn nhiên hơn và dễ giao tiếp hơn để nhận thấy rằng các lực lượng siêu nhiên này là có tồn tại. Nói như vậy để thấy rằng, không phải cứ có cầu đảo, bùa chú, pháp thuật thì là Đạo giáo.

Mặc dù Đạo giáo phù lục hiện diện rất sâu rộng ở nước ta, nhưng điều đó cũng không có nghĩa là đạo giáo thần tiên không có mặt ở Việt nam. Chỉ có điều Đạo giáo thần tiên chủ yếu hướng vào đối tượng là các nhà nho, sỹ phu, giới trí thức, quan lại, quý tộc. Số người thực sự tu hành theo lối Đạo giáo thì không phải là nhiều, và số người được cho là tu thành tiên thì lại càng ít hơn. Sách Hội chân biên ([3]) ghi lại trường hợp 13 tiên ông và 14 tiên nữ của nước ta. Còn lại phần lớn các sỹ phu, nhà nho, tầng lớp trí thức, đều chỉ dừng lại ở mức chịu ảnh hưởng của tư tưởng Lão Trang, sống theo lối “phong hoa tuyết nguyệt” của Đạo giáo mà thôi.

Trong thời gian gần đây, phong trào tập luyện khí công, thiền, yoga ở Trung Quốc cũng như ở Việt nam và nhiều nước khác đã phát triển khá mạnh. Phần lớn người luyện tập đều vì mục đích dưỡng sinh, tăng cường sức khỏe là chính. Các môn phái võ cũng có nhiều bài tập nội công riêng của môn phái mình. Về cơ bản, các kỹ thuật này cũng không khác kỹ thuật tu luyện nội đan của Đạo giáo. Như vậy có thể thấy ảnh hưởng và tác dụng của Đạo giáo vẫn còn cho tới tận ngày nay.

Mặt khác, trong thời gian qua, ở nhiều nơi trong đó có Việt nam liên tục xuất hiện nhiều trường hợp con người có công năng đặc dị như khả năng thấu thị, khả năng chữa bệnh bằng khí công, khả năng di chuyển vật nặng mà không cần tiếp xúc, khả năng dự đoán tương lai…  Các nhà khoa học cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu các hiện tượng siêu nhiên này để vén lên tấm màn bí ẩn và để tránh việc đồn thổi, biến các hiện tượng này thành cái cớ để cổ xúy cho tệ mê tín dị đoan. Mặc dù hiện chưa đưa ra kết luận rõ ràng nào về các hiện tượng siêu nhiên, nhưng các nhà khoa học cũng đã tạm chia các đối tượng này ra thành các nhóm: (i) có công năng do bẩm sinh, (ii) có công năng do một biến cố tâm sinh lý, (iii) có công năng do luyện tập khí công, thiền, yoga. Nếu lùi về quá khứ cách đây hàng ngàn năm, các nhân vật có công năng đặc dị như vậy rất có thể đã được coi là thần tiên. Nói như vậy để thấy rằng, các trường hợp tu tiên thành công trong quá khứ xa xưa mà sách xưa còn lưu lại hẳn không phải là hoang đường. Đó là chưa nói đến việc công phu và quyết tâm tu tập của người xưa là rất cao cũng như mối quan hệ gần gũi giữa con người và thiên nhiên và hoàn cảnh sống trong quá khứ cũng thuận lợi cho tu tập hơn bây giờ rất nhiều, khiến cho khả năng thành công lớn hơn.

Để tập hợp nên Phần Bốn – Đạo giáo này, chúng tôi tham khảo và trích giới thiệu chủ yếu tư liệu của các tác giả Nguyễn Tôn Nhan (Bách khoa thư về Văn hóa cổ điển Trung Quốc), Lê Anh Minh (Các tông phái của Đạo giáo Trung Quốc), Trần Ngọc Thêm (Cơ sở văn hóa Việt nam), Nguyễn Duy Hinh (Văn minh Đại Việt, Người Việt nam với Đạo giáo), Phan Ngọc (Bản sắc Văn hóa Việt nam), Đào Duy Anh (Việt nam Văn hóa Sử cương), Nguyễn Vinh Phúc – Nguyễn Duy Hinh (Các thành hoàng và tín ngưỡng Thăng Long – Hà Nội, NXB Lao động, 2009), và một số nguồn khác, chi tiết nêu tại mục Tài liệu tham khảo. Xin chân thành cám ơn tất cả các vị. ([4])

 


([1]) Theo bài “Tìm hiểu các tông phái của Đạo giáo Trung Quốc” của Lê Anh Minh thì năm 1969, Trương Ân Phổ, chưởng giáo đời thứ 63 của Thiên Sư Đạo, chết, truyền lại cho cháu họ là Trương Uyên Tiên lên kế vị tại Đài Loan.

([2]) Xem mục Sơ lược tiểu sử tác giả và nhân vật ở cuối sách.

([3]) Tác giả Thanh Hòa, xuất bản năm 1847, ghi lại sự tích các vị tiên ở nước ta.

([4]) Về các tác giả này, xem mục Sơ lược tiểu sử tác giả và nhân vật ở cuối sách.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s