b. Tóm tắt về Đạo giáo

Lịch sử hình thành và phát triển của Đạo giáo rất phức tạp, với hàng ngàn bộ kinh sách ([1]), hàng ngàn phương pháp tu luyện, và rất nhiều giáo phái. Vì vậy, để đưa ra một định nghĩa như thế nào là Đạo giáo thì thật là khó.

Phó giáo sư sử học Nguyễn Duy Hinh trong cuốn “Văn minh Đại Việt” cho rằng:

“ Đạo giáo là một sản phẩm tôn giáo của Trung Quốc, hình thành trên cơ sở vu thuật, Đạo học (học thuyết của Lão Tử), thuyết âm dương, vốn đã ra đời từ thời Xuân Thu – Chiến Quốc (khoảng năm 770 – 221 trước công nguyên). Đến năm 141 sau công nguyên mới hội nhập hình thành Đạo giáo dưới hình thức ban đầu là Ngũ Đấu Mễ Đạo của Trương Đạo Lăng. Rồi sau đó hấp thu Phật giáo, Nho giáo phát triển thành hai dòng dân gian và chính thống”.

Cũng trong sách trên, Phó giáo sư sử học Nguyễn Duy Hinh cho rằng các yếu tố góp phần tạo nên Đạo giáo là: vu thuật, tín ngưỡng sùng bái quỷ thần, thuyết thần tiên, học thuyết của Lão Tử, thuyết âm dương, và các phương pháp dưỡng sinh cổ đại của Trung Quốc. Đạo giáo được chia thành hai nhóm “thần tiên” và “phù thủy”. Đến thế kỷ thứ 5 – thứ 6 thì hình thành hai nhóm Đạo giáo sỹ tộc (hay Đạo giáo cung đình) và Đạo giáo dân gian. Cách phân chia này là dựa trên đối tượng phục vụ của Đạo giáo. Đạo giáo sỹ tộc là Đạo giáo phục vụ đối tượng sỹ tộc, cung đình, ví dụ như các Đạo quan chịu trách nhiệm tổ chức việc tế lễ trời đất, thần thánh, chiêm bốc…; còn Đạo giáo dân gian là Đạo giáo phục vụ đông đảo dân chúng.

Nhà nghiên cứu, dịch giả Nguyễn Tôn Nhan trong cuốn Bách khoa thư Văn hóa cổ đại Trung Quốc (NXB Văn hóa – Thông tin, 2002) viết:

“Về thuật ngữ “Đạo giáo”, Kinh Dịch viết: “Bậc thánh nhân dùng Thần đạo lập giáo nên thiên hạ phục theo vậy”. Trước Trương Đạo Lăng, Thần đạo nguyên thủy và đạo của các thánh nhân tiên vương cũng đều gọi là Đạo giáo. Phật giáo cũng thường dịch nghĩa chữ Bồ đề là Đạo. Sau khi Trương Đạo Lăng kế thừa khái niệm Đạo của Lão Tử để lập nên Đạo giáo, Đạo giáo liền diễn dùng thành từ riêng biệt để chỉ Đạo của Trương Đạo Lăng, phân biệt với Phật giáo. Ông Cố Hoan đời Nam Tề viết trong sách “Di Hạ luận” rằng: “Phật giáo văn vẻ mà rộng, Đạo giáo chân chất mà tinh lọc” là để chỉ ra sự khác biệt giữa Đạo giáo và Phật giáo”.

Về khái niệm “Đạo”, Lão Tử cho rằng trước khi trời đất được hình thành đã có tồn tại một vật chất nguyên thuỷ hỗn độn chưa phân tách, mà vật chất nguyên thuỷ chính có ở khắp mọi nơi, hóa sinh ra vạn vật, là nguồn gốc của vũ trụ. Ông gọi thứ vật chất không biết tên này là “Đạo”.

Cũng về quá trình hình thành Đạo giáo, học giả Đào Duy Anh trong cuốn “Việt nam Văn hóa sử cương” (NXB Văn hóa Thông tin, 2006) viết tương đối đơn giản, đại ý là:

“Đời Hoàng Đế nhà Hậu Hán bên Trung Quốc (147 – 167), có nhà đạo học là Trương Đạo Lăng học được đạo trường sinh, lên núi Hộc Minh Sơn ở đất Thục làm một bộ đạo thư gồm 24 thiên để dẫn dụ nhân dân. Phàm ai nhập môn thì phải nộp năm đấu gạo nên gọi là “ngũ đấu mễ đạo”. Phép trị bệnh của đạo ấy là dung nước bùa (phù thủy) cho người bệnh uống, hay là viết tên họ của người bênh vào ba tờ giấy, một tờ dán ỏ trên núi, một tờ chôn dưới đất, và một tờ ném chìm xuống nước. Trương Đạo Lăng phụ hội thuyết thần quái của bọn phương sỹ đời Lưỡng Hán và lợi dụng hư vô chủ nghĩa cùng phá hoại chủ nghĩa của Lão học (học thuyết của Lão Tử) để lung lạc những kẻ bất bình trong xã hội cho nên kết nạp được tín đồ rất đông. Lại nhân văn thể của Lão Tử có vần dễ tụng, có nhiều chỗ mập mờ khó hiểu, hoặc có vẻ thần bí, cho nên lại càng khiến người ta sợ hãi và mê tín thêm. Đến cuối đời Hán sang đời Tấn, học thuyết Hoàng Lão thịnh hành (“Hoàng” là Hoàng Đế, một vị thần tổ của Đạo giáo Trung Quốc, “Lão” là Lão Tử); những kẻ theo đạo ấy lấy điều siêu nhiên làm chủ, cho nên rất lưu ý về phép trường sinh bất tử, vũ hóa đăng tiên. Từ đó, Đạo giáo nghiễm nhiên thành phép tu tiên. Đến đời Đông Tấn (317 – 420), có Cát Hồng quy định rất là chu đáo (về phép tu tiên), rồi sinh ra vô số những phương thuật và mê tín khác”.

Học giả Phan Ngọc trong sách “Bản sắc Văn hóa Việt nam” cũng cho rằng mầm mống của Đạo giáo đã có từ trước Trương Đạo Lăng, nhưng chỉ thu hẹp trong phạm vi giới đại quý tộc vì để thực hành nó rất tốn kém. Vì vậy, Đạo giáo khi đó chưa thể gọi là một tôn giáo vì không đáp ứng đủ ba tiêu chí như nêu ở phần trên. Chỉ khi xuất hiện phong trào “Ngũ đấu mễ đạo” và “Thái bình đạo” thì Đạo giáo mới được coi là một tôn giáo. Học giả Phan Ngọc chỉ coi việc “tu tiên” là đặc điểm đặc trưng của Đạo giáo, chứ không coi đặc điểm “phù thủy” là đặc điểm đặc trưng; có thể ông thấy rằng yếu tố “phù thủy” cũng tồn tại ở nhiều tôn giáo – tín ngưỡng khác, không chỉ ở Đạo giáo.

Phó giáo sư Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt nam” cũng cho rằng Đạo giáo được khởi đầu từ “Ngũ Đấu Mễ Đạo” của Trương Đạo Lăng.

Như vậy, có thể tạm tóm tắt về “Đạo giáo” như sau: Đạo giáo là tôn giáo của Trung Quốc, nảy sinh từ tín ngưỡng vu thuật (đồng cốt, bùa chú, cầu đảo để liên hệ với thần linh), tục sùng bái quỷ thần dưới thời Trung Quốc cổ đại, và cũng xuất phát từ ước vọng trở thành bất tử, trở thành thần tiên. Đạo giáo khởi đầu bằng Ngũ Đấu Mễ Đạo của Trương Đạo Lăng vào năm 141 sau công nguyên, lấy học thuyết Lão Tử  làm kinh điển. Đây là Đạo phái phù lục, sau cũng chuyển theo hướng thần tiên. Ngoài Ngũ Đấu Mễ Đạo, còn có nhiều giáo phái khác cũng ra đời, hình thành nên hai trường phái phù lục và thần tiên.

Về cách phân nhóm các tông phái Đạo giáo, phổ biến là phân theo hai nhóm: nhóm phù lục (còn gọi là phù thủy), và nhóm thần tiên (bao gồm nội đan và ngoại đan). Nhóm phù lục thiên về sử dụng bùa chú, cầu đảo, pháp thuật để trị bệnh và cứu độ dân chúng, mang nhiều tính nhập thế. Nhóm thần tiên gồm hai nhánh nhỏ là nhánh ngoại đan và nhánh nội đan, có phần xuất thế. Ngoại đan là chỉ việc luyện đan dược làm thuốc trường sinh; tuy nhiên việc uống đan dược như vậy đã gây ra cái chết cho nhiều người nên ngoại đan dần dần trở nên không còn thịnh hành nữa, thay vào đó người ta chuyển sang nội đan. Nội đan tức là luyện tập, dùng Tinh và Khí làm dược liệu, vận dụng Thần, trải qua trình tự tu luyện nhất định, làm cho Tinh – Khí – Thần  biến thành nội đan, kết lại ở đan điền (“đan điền” có nghĩa là “ruộng đan”, tức là nơi luyện đan). Nội đan kết tụ ở đan điền này còn gọi Thánh thai, có tác dụng trường sinh bất tử. Có vô vàn phương pháp tu luyện nội đan. Việc phân nhóm Đạo giáo như vậy chỉ là tương đối, vì có thể các đạo đồ của nhóm này cũng sử dụng phương pháp của nhóm kia và ngược lại.

Ảnh hưởng của Đạo giáo trong đời sống xã hội là rất rộng lớn. Có thể thấy sự hiện diện của Đạo giáo trong hầu hết các mặt của đời sống, như chính trị, kinh tế, triết học, văn chương, nghệ thuật, âm nhạc, dưỡng sinh, y học, hóa học, vũ thuật, và phong thủy. Trước tiên phải kể đến lĩnh vực y dược học cổ truyền, khởi phát từ việc tìm thuốc trường sinh khiến cho hiểu biết về các loài thảo mộc, cách bào chế thuốc trở nên hoàn thiện hơn và có giá trị thực sự trong đời sống con người. Các phương pháp luyện tập nội đan của Đạo giáo khi được truyền ra dân gian thì trở thành các môn khí công, dưỡng tâm, dưỡng thân, môn châm cứu, và thực sự đã chứng minh được tính thần diệu của nó. Đơn cử các bài tập khí công như Dịch cân kinh hay Thái cực quyền đến nay vẫn được lưu truyền và luyện tập rộng rãi trong dân chúng. Đó là các sản phẩm của Đạo giáo. Mặt khác, nguyên lý “con người và vũ trụ là một” của Đạo giáo (như Lão Tử nói trong Đạo đức kinh) đã trở thành cơ sở để hình thành y lý của Đông Y, theo đó, người ta dùng mô hình vũ trụ để giải thích các quan hệ trong cơ thể con người, làm nguyên tắc chẩn trị bệnh (con người là tiểu vũ trụ, các quan hệ sinh khắc áp dụng trong thế giới vật chất cũng được sử dụng để chẩn đoán và trị bệnh trong cơ thể con người). Ngoài ra, các bộ môn văn học, nghệ thuật của Trung Quốc cũng chịu ảnh hưởng rất lớn từ Đạo giáo. Ngay cả Nho giáo và Phật giáo cũng chịu ảnh hưởng của Đạo giáo. Đương nhiên đây là quá trình ảnh hưởng tất yếu lẫn nhau của Tam giáo. Có thể thấy sự hiện diện của tư tưởng siêu hình Đạo giáo trong Tống nho chẳng hạn. Một mảng ảnh hưởng sâu đậm của Đạo giáo mà không thể không nhắc tới là lĩnh vực phong thủy, tiên tri, chiêm bốc, tướng số. Đây là các lĩnh vực thu hút được sự quan tâm của rất đông đảo người dân, không chỉ dân thường mà trước hết là tầng lớp quý tộc, cung đình. Ngay cả các học giả lớn của Việt nam như Lê Quý Đôn cũng đã từng trước tác nhiều tác phẩm về chủ đề này (ví dụ cuốn “Thái Ất dị giản lục”, “Dịch kinh phu thuyết”).

Theo nhà văn hóa Phan Ngọc viết trong cuốn “Bản sắc Văn hóa Việt nam”, từ sau Chiến tranh Thuốc phiện (1840), Đạo giáo bị phân liệt thành 80 giáo phái. Đa số chống lại bọn quân phiệt và đế quốc. Trong Cách mạng văn hóa của Trung Quốc, Đạo giáo bị cấm. Tháng 5 năm 1980, theo chính sách tự do tín ngưỡng, Đạo giáo lại được phục hồi ở Trung Quốc, do Lê Vu Hằng làm hội trưởng. Đạo giáo phát triển rất mạnh ở Đài Loan và Đông Nam Á, với 4157 cung quán. Theo thông tin đăng tải trên trang web của Đại sứ quán Việt nam tại Trung Quốc thì hiện nay trên toàn Trung Quốc có hơn 1500 ngôi miếu Đạo giáo và hơn 25000 đạo sĩ. Còn theo Bách khoa toàn thư mở wikipedia thì hiện ở Trung Quốc có khoảng 400 triệu người theo Đạo giáo.


([1]) Chỉ tính tới đầu thế kỷ thứ XII, tổng số kinh sách tập hợp thành “Đạo tạng kinh” (Bộ Kinh tổng hợp của Đạo giáo) đã là 5387 quyển (theo Bản sắc Văn hóa Việt nam, Phan Ngọc)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s