c. Đạo giáo Trung Quốc

1. Lịch sử phát triển của Đạo giáo Trung Quốc

Trong lịch sử phát triển của Đạo giáo, người ta thấy rằng tùy theo sự biến thiên của xã hội mà nhiều giáo phái suy vong, trong khi đó lại có tân giáo phái ra đời. Có khi do hoàn cảnh xã hội, một giáo phái nhỏ sát nhập với một giáo phái khác, hoặc một giáo phái lớn bị phân hoá thành chi phái nhỏ hơn. Đó là hiện tượng hưng – suy – phân – hợp trong lịch sử phát triển khoảng 2000 năm của Đạo giáo Trung Quốc. Thí dụ:

–         Ngũ Đấu Mễ Đạo đã trải qua hai cuộc cải cách do đạo sĩ Khấu Khiêm Chi (Bắc Ngụy) và đạo sĩ Lục Tu Tĩnh (Nam Triều Tống) tiến hành. Khấu Khiêm Chi cải cách Ngũ Đấu Mễ Đạo (tức Thiên Sư Đạo) ở phương bắc nên nhánh này gọi là Bắc Thiên Sư Đạo, còn Lục Tu Tĩnh cải cách Ngũ Đấu Mễ Đạo ở phương nam nên nhánh này gọi là Nam Thiên Sư Đạo. Đến đời Tùy thì Nam và Bắc Thiên Sư Đạo hợp nhất làm một. Khoảng đời Đường sử sách không chép rõ diễn biến của Thiên Sư Đạo. Sau đời Đường, cháu của Trương Lăng (tương truyền là Trương Thịnh, con thứ 4 của Trương Lỗ) tiếp tục truyền giáo tại Long Hổ Sơn ở Giang Tây. Núi này dần trở thành một trung tâm truyền bá Thiên Sư Đạo và giáo phái mang tên mới là Long Hổ Tông theo tên của nơi truyền đạo là Long Hổ Sơn, cũng gọi là Long Hổ Sơn Thiên Sư Đạo.

–         Thượng Thanh Phái đến đời Đào Hoằng Cảnh thì lấy Mao Sơn làm trung tâm truyền đạo, nên gọi là Mao Sơn Tông.

–         Lý Gia Đạo từ đời Đông Tấn về sau thì nhập vào Thiên Sư Đạo.

–         Linh Bảo Phái đến đời Bắc Tống thì phân hoá thành Đông Hoa Phái; đến đời Nguyên thì nhập vào Chính Nhất Đạo.

–         Lâu Quán Đạo suy thoái vào đời Nguyên, được Toàn Chân Đạo khôi phục, nên nhập vào Toàn Chân. v.v…

Cho dù do những điều kiện chủ quan và khách quan dị biệt như thế nào, thì các giáo phái có một đặc điểm chung là: xuất hiện vào những thời kỳ mà xã hội bị phân hóa, nảy sinh nhiều mâu thuẫn, và nhân dân lầm than khốn khổ. Thí dụ như:

–         Ngũ Đấu Mễ Đạo và Thái Bình Đạo xuất hiện vào cuối đời Đông Hán lúc mà tình hình chính trị tối tăm mục nát, khủng hoảng kinh tế nặng nề.

–         Thượng Thanh Phái và Linh Bảo Phái xuất hiện vào đời Đông Tấn bị suy yếu do các nước phân tranh.

–         Các giáo phái phương Bắc (như Toàn Chân Đạo, Chân Đại Đạo,  Thái Nhất Đạo, …) và các giáo phái phù lục phương Nam (như Thiên Tâm Phái, Thần Tiêu Phái, Thanh Vi Phái, Đông Hoa Phái,…) xuất hiện vào đời Bắc Tống (960-1127) là thời hai vua Huy Tông và Khâm Tông bị giặc bắt giữ, và đời Nam Tống (1127-1279) là một thời kỳ loạn lạc liên miên.

Với hoàn cảnh xã hội tao loạn điêu linh trong cơn binh lửa như vậy, các giáo phái đã ra đời như một điểm tựa tâm linh cho quần chúng vốn dĩ quá ngao ngán trước thế cuộc và băn khoăn đau xót về thân phận phù du của kiếp người.

 

2. Cách đặt tên giáo phái

a.  Lấy tên của bộ tổ kinh làm tên của giáo phái 

Người sáng lập các giáo phái có nhiều cách để thu hút quần chúng. Ngay từ thuở đầu tiên, các giáo chủ đều lấy kinh điển (tương truyền do thần tiên giáng cơ bút) để thu hút quần chúng:

–        Khi Thái Bình Đạo được sáng lập, người ta bảo nhau rằng Trương Giác được thần tiên trao cho bộ kinh 170 quyển nơi suối Khúc Dương. Đó là bộ Thái Bình Thanh Lĩnh Thư tức là Thái Bình Kinh.

–        Khi Ngũ Đấu Mễ Đạo xuất hiện, người ta tuyên truyền rằng nơi Hạc Minh Sơn Thái Thượng Lão Quân đích thân truyền đạo Chính Nhất Minh Uy cho Trương Lăng.  Ngũ Đấu Mễ Đạo cũng gọi là Chính Nhất Đạo và Thiên Sư Đạo.

–        Thượng Thanh Phái khi thành lập, họ tuyên truyền rằng Ngụy Phu Nhân (tức Ngụy Hoa Tồn) và chư tiên đã truyền cho Dương Hi và Hứa Mật bộ Thượng Thanh Chân Kinh.

–        Linh Bảo Phái thì nói rằng giáo chủ Cát Sào Phủ (cháu họ của Cát Hồng) đã có được bộ Linh Bảo Kinh mà xưa kia Nguyên Thủy Thiên Tôn đã truyền cho Cát Huyền.

–        Những truyền tụng đại loại như vậy thì rất nhiều, nhưng điều này cho thấy việc đặt tên cho giáo phái dựa trên cơ sở ban đầu là tên của tổ kinh (tương truyền do thần tiên giáng cơ bút dạy cho vị đạo sĩ sáng lập giáo phái). Thí dụ như:

–        Trương Giác căn cứ vào bộ Thái Bình Kinh mà đặt tên giáo phái mình là Thái Bình Đạo.

–        Trương Lăng căn cứ vào bộ Chính Nhất Minh Uy mà đặt tên giáo phái là Chính Nhất Đạo (Ngũ Đấu Mễ Đạo và Thiên Sư Đạo là tên gọi bình dân của Chính Nhất Đạo).

–        Dương Hi và Hứa Mật căn cứ bộ Thượng Thanh Đại Đỗng Chân Kinh mà đặt tên phái mình là Thượng Thanh Phái.

–        Cát Sào Phủ căn cứ bộ Linh Bảo Kinh mà đặt tên phái mình là Linh Bảo Phái.

–        Đạo sĩ Nhiêu Động Thiên (đời Bắc Tống) mộng thấy thần tiên mách bảo bèn lên núi Hoa Cái khai quật được một hộp bằng vàng chứa bộ Thiên Tâm Kinh Chính Pháp; từ đó lập giáo phái và đặt tên là Thiên Tâm Phái.

–        Các đạo sĩ Vương Văn Khanh và Lâm Linh Tố (cuối đời Bắc Tống) được Uông Quân Hỏa Sư truyền cho Phi Thần Yết Đế Đạo và Triệu Thăng (đệ tử của Trương Lăng) truyền cho bộ Thần Tiêu Thiên Đàn Ngọc Thư nên đặt tên giáo phái là Thần Tiêu Phái.

–        Đạo sĩ Lưu Đức Nhân  (đầu đời Kim) được Lão Tử giáng bút dạy cho yếu lĩnh của bộ Đạo Đức Kinh nên lập Đại Đạo Giáo, sau đổi thành Chân Đại Đạo.

b.  Lấy khẩu quyết luyện đan để đặt tên giáo phái 

Tiêu biểu nhất là Toàn Chân Đạo và Thái Nhất Đạo. Đời Kim, Vương Trung Phu (tự là Duẫn Khanh) gặp tiên Lã Động Tân (Lã Tổ) tại trấn Cam Hà, được ngài truyền cho khẩu quyết luyện đan là Toàn chân. Ý nói bảo toàn tam bảo (toàn tinh, toàn khí, toàn thần) hội tụ trung cung, kim đan thành tựu. Vương bỏ Nho theo Đạo, tu luyện tại núi Chung Nam, đổi tên là Vương Triết (chữ Triết gồm 3 chữ Cát), tự là Tri Minh, hiệu là Trùng Dương Tử (người đời hay gọi là Vương Trùng Dương). Từ khẩu quyết luyện đan, Vương Trùng Dương chọn tên của giáo phái là Toàn Chân Đạo. Đầu đời Kim, đạo sĩ Tiêu Bão Trân xưng là được thần tiên truyền cho Thái Nhất Tam Nguyên Pháp Lục, cho nên sáng lập giáo phái là Thái Nhất Đạo hoặc Thái Nhất Giáo, chuyên về phù lục.

c.  Lấy tên của tổ sư làm tên giáo phái

Trường hợp này có Đông Hoa Phái, Tử Dương Phái và Bạch Gia Đạo.

Đông Hoa Phái do Ninh Toàn Chân sáng lập. Đông Hoa là Đông Hoa Thiếu Quân (tức Vương Huyền Phủ), đệ tử của Thái Thượng Lão Quân.

Tử Dương Phái thuộc Toàn Chân Đạo Nam Tông, thờ Trương Tử Dương (Trương Bá Đoan) làm tổ sư.

Bạch Gia Đạo xuất hiện đời Ngụy Tấn, lấy tên của vị sáng lập là Bạch Hòa làm tên của giáo phái.

Lý Gia Đạo xuất hiện đời Ngụy Tấn, lấy tên của tổ sư là Lý Bát Bách (cũng gọi Lý Bát Bá) làm tên của giáo phái.

d.  Lấy tên của khu vực địa lý làm tên giáo phái

Một số giáo phái lấy một địa danh làm tên (có thể là nguyên quán của tổ sư hoặc khu vực phát khởi giáo phái) thí dụ như: Lâu Quán Đạo, Long Hổ Tông, Mao Sơn Tông, Các Tạo Tông (Cáp Tạo Tông), Long Môn Phái.

Lâu Quán thuộc huyện Chu Chí tỉnh Thiểm Tây, tương truyền là nguyên quán của quan lệnh Doãn Hỉ. Vì thờ Doãn Hỉ làm tổ sư nên giáo phái lấy tên là Lâu Quán Đạo.

Mao Sơn Tông lấy Mao Sơn (núi cỏ mao) làm tổ đình. Mao Sơn có tên xưa là Cú Khúc Sơn, Địa Phế Sơn, Cương Sơn, Kỷ Sơn. Mao Sơn thuộc hàng động thiên phúc địa rất nổi tiếng, nằm ở giữa hai huyện Kim Đàn và Cú Dung của tỉnh Giang Tô. Mao Sơn Tông kế thừa Thượng Thanh Phái. Đào Hoàng Cảnh (457 – 536) ([1]) là tổ sư đời thứ 9 của Thượng Thanh Phái (không chú trọng phù lục). Sau khi quy ẩn 10 năm tại Mao Sơn, ông sáng lập Mao Sơn Tông (coi trọng phù lục), lấy tên núi làm tên giáo phái.

Long Hổ Tông là một giáo phái phù lục, do con cháu của Trương Đạo Lăng là Trương Thịnh lấy núi Long Hổ làm trung tâm truyền đạo. Long Hổ Sơn cũng thuộc hàng động tiên phúc địa, có tên gốc là Vân Cẩm Sơn, nằm phía Tây Nam của huyện Quý Khê tỉnh Giang Tây.

Các Tạo Tông (cũng gọi Cáp Tạo Tông) chuyên về phù lục, là giáo phái phát triển từ Linh Bảo Phái. Các Tạo Tông hình thành vào đời Bắc Tống, tổ đình là Sùng Chân Vạn Thọ Cung trên núi Các Tạo (tức Cáp Tạo), nằm phía Đông Nam của huyện Thanh Giang tỉnh Giang Tây. Do đó giáo phái lấy tên là Các Tạo Tông.

Long Môn Phái phát triển từ Toàn Chân Đạo. Vào đời Minh Thanh, Toàn Chân suy yếu, nên Triệu Đạo Kiên (một đệ tử của Khưu Xứ Cơ) sáng lập Long Môn Phái, và thờ Khưu Xứ Cơ làm tổ sư. Long Môn là tên núi (nơi Khưu Xứ Cơ tu luyện), tọa lạc ở huyện Lũng tỉnh Thiểm Tây.

 3. Tên gọi các giáo phái

Số lượng các giáo phái rất nhiều, do bởi quá trình hưng-suy-phân-hợp. Người ta có thể kể ra một số giáo phái lớn thôi. Sau đây là 38 giáo phái, phân biệt theo tên gọi (gồm 14 đạo, 16 phái, 7 tông, 1 giáo):

14 giáo phái tên gọi có chữ Đạo:

Bắc Thiên Sư Đạo 北天師道

Bạch Gia Đạo 帛家道

Chân Đại Đạo 真大道

Chính Nhất Đạo 正一道

Lâu Quán Đạo 樓觀道

Lý Gia Đạo 李家道

Nam Thiên Sư Đạo 南天師道

Ngoại Đan Đạo 外丹道

Ngũ Đấu Mễ Đạo 五斗米道

Nội Đan Đạo 內丹道

Thái Bình Đạo 太平道

Thái Nhất Đạo 太一道

Toàn Chân Đạo 全真道

Tịnh Minh Đạo 淨明道

16 giáo phái tên gọi có chữ Phái:

Diên Hống Phái 鉛汞派

Du Sơn Phái 游山派

Đan Đỉnh Phái 丹鼎派

Đông Hoa Phái 東華派

Kim Sa Phái 金砂派

Linh Bảo Phái 靈寶派

Long Môn Phái 龍門派

Nam Vô Phái 南無派

Ngộ Tiên Phái 遇仙派

Phù Lục Phái 符籙派

Thanh Vi Phái 清微派

Thần Tiêu Phái 神霄派

Thiên Tâm Phái 天心派

Thượng Thanh Phái 派上清

Tử Dương Phái 紫陽派

Tùy Sơn Phái 隨山派

7 giáo phái tên gọi có chữ Tông:

Bắc Tông 北宗

Các Tạo Tông 閣皂宗

Kim Đan Phái Nam Tông 金丹派南宗

Long Hổ Tông 龍虎宗

Mao Sơn Tông 茅山宗

Nam Bắc Tông 南北宗

Nam Tông 南宗

1 giáo phái tên gọi có chữ Giáo:

Huyền Giáo 玄教

4. Đặc điểm của các giáo phái

Cho dù các giáo phái đã phát khởi thế nào, tên gọi khác biệt ra sao, nhưng tất cả đều giống nhau ở tín ngưỡng cơ bản và mục đích tu luyện. Tín ngưỡng cơ bản của họ là Đạo (theo quan niệm của Lão Tử) và mục đích tu luyện là để “trường sinh bất tử, đắc đạo thành tiên”. Từ quan niệm nền tảng là Đạo, các giáo phái đã kế thừa và phát triển để biến nó thành một thứ thế giới quan triết học (hay phương pháp luận) của bản môn, mà từ đó họ thiết kế một phương pháp tu luyện phù hợp. Đó là tính chất chung của các giáo phái; nhưng ngoài ra, mỗi giáo phái cũng có tính chất riêng của mình.

Cái cá tính đó phát xuất từ cách lý giải tín ngưỡng cơ bản và mục tiêu tu luyện, cũng như các phương pháp thực hành. Ngay giai đoạn phát triển ban đầu của Đạo giáo, các giáo phái đều có chung mục tiêu là trường sinh và thành tiên, nhưng cách thực hành thì khác nhau: hoặc họ thực hành trai tiêu (tức là thể thức cúng tế), hành khí, đạo dẫn, tồn thần, thủ nhất, v.v… (gọi chung là luyện hình); hoặc họ tìm cách chế biến đan dược bằng các thứ như chu sa, diên (chì), hống (thủy ngân), các dược thảo, v.v… làm thuốc trường sinh và ăn vào để thành tiên (gọi chung là ngoại đan); hoặc họ vận nội công hấp khí đại chu thiên và tiểu chu thiên, v.v… (gọi chung là nội đan; nội ngoại đan gọi chung là đan đỉnh); hoặc họ dùng phù lục, bùa chú, cầu đảo, pháp thuật, v.v… (gọi chung là phù lục). Dần dần các thứ ngoại đan, phù lục bị xem là tà đạo, chỉ còn chủ trương nội đan luyện dưỡng là được duy trì mà thôi.

Cho dù phương pháp tu luyện có khác nhau, nhưng quan niệm thành tiên của các giáo phái trong giai đoạn ban đầu của Đạo giáo đều giống nhau ở chỗ cho rằng “nhục thể và tinh thần cùng tồn tại” (nhục thể dữ tinh thần cộng tồn), hiểu rằng bất tử tức là nhục thể bất tử. Do đó phép tu luyện là nhắm vào luyện thần và luyện hình, để thần (tinh thần) và hình (nhục thể) đều huyền diệu (hình thần câu diệu), nhờ đó thân thể bay được lên trời (nhục thể phi thăng), giống như truyền thuyết “Hoàng Đế bạch nhật thăng thiên” (Hoàng Đế bay lên trời giữa ban ngày). Không những nhục thể, mà điền sản nhà cửa cũng có thể bay theo lên trời. Đến khi Toàn Chân Đạo phát khởi (vào đầu đời Kim), quan niệm nhục thể bất tử bị xem là quan niệm ngu xuẩn, không thấu đạt đạo lý. Trái lại, bất tử phải hiểu là chân tính hay dương thần bất tử, thoát xác để quay về với Đại Đạo; còn cái thân huyết nhục giống như cái áo, phải cởi bỏ tại thế gian.

Về mặt tín ngưỡng cơ bản, các giáo phái như Ngũ Đấu Mễ Đạo, Thái Bình Đạo, Bạch Gia Đạo, Lý Gia Đạo, v.v… cũng có sự dị biệt. Các giáo phái này sáng lập vào giai đoạn ban đầu của Đạo giáo; giáo nghĩa (ý nghĩa của giáo phái) và giáo quy (nội quy của giáo phái) không hoàn bị, mang tính chất mù quáng. Các giáo phái này phát sinh từ quần chúng như một phong trào phản kháng giai cấp thống trị, tức là một hình thức nông dân khởi nghĩa, chẳng hạn như Trương Giác lợi dụng Thái Bình Đạo để dấy động cuộc đại khởi nghĩa gọi là Hoàng Cân khởi nghĩa mà sách sử hay gọi là loạn giặc Khăn Vàng. Giữa đời Hán, Trương Tu thống lĩnh một cánh quân của Ngũ Đấu Mễ Đạo để hưởng ứng Hoàng Cân. Cuối đời Hán của thời Tam Quốc, Bạch Gia Đạo và Lý Gia Đạo cũng khởi nghĩa. Đến đầu đời Tấn, đệ tử của Lý Thoát là Lý Hoằng (tự xưng là hoá thân của Lão Quân) khởi nghĩa ở núi Hoắc Sơn thuộc tỉnh An Huy. Ngũ Đấu Mễ Đạo thời Tam Quốc bị Trương Lỗ lợi dụng, thiết lập tại Hán Trung một chính quyền kết hợp giữa chính trị và tôn giáo kéo dài gần 30 năm. Sau khi chính quyền Trương Lỗ bị diệt, Ngũ Đấu Mễ Đạo do Trần Thụy lãnh đạo tại Thục. Rồi Lý Đặc và Lý Hùng lãnh đạo các lưu dân khởi nghĩa. Với sự trợ giúp của một đầu lĩnh của Ngũ Đấu Mễ Đạo là Phạm Trường Sinh, họ chiếm được Thành Đô, xây dựng một thứ chính quyền nhà Hán, kéo dài hơn 40 năm. Sau khi Ngũ Đấu Mễ Đạo truyền vào Giang Nam, vào cuối đời Đông Tấn, lại bạo phát cuộc khởi nghĩa của Tôn Ân và Lư Tuần, làm cho nhà Đông Tấn mau chóng bị diệt vong. Cuối đời Hán về sau vẫn không ngừng xảy ra các vụ khởi nghĩa của các giáo phái. Nói chung, trong giai đoạn ban đầu của Đạo giáo, các giáo phái đa số mang tính chất chống triều đình. Đến đời Nam Bắc Triều, các đạo sĩ như Khấu Khiêm Chi, Lục Tu Tĩnh, v.v… đều xuất thân từ giới sĩ tộc. Họ dùng luân lý Nho gia để cải cách tính chất chống lại triều đình này; và giáo lý tăng cường nội dung trung hiếu để các đạo giáo thích ứng bản chất của chế độ phong kiến. Có lẽ đây là một trong các lý do mà các Thiện Thư (sách khuyến thiện) một mực đề cao luân lý tam giáo, nhất là luân lý trung hiếu của Nho giáo.

Các giáo phái một mặt ảnh hưởng qua lại với nhau, một mặt hấp thu tinh túy của Nho và Phật giáo. Kể từ đời Đường và đời Tống, tư tưởng Tam giáo hợp nhất là một trào lưu rất thịnh hành. Người khởi xướng trào lưu này là Đào Hoàng Cảnh. Ví dụ: Tịnh Minh Đạo chịu ảnh hưởng sâu đậm Nho giáo; còn Toàn Chân Đạo thì ngay từ lúc lập giáo, lý luận tu luyện đã mang màu sắc Thiền Tông.

Về mặt cơ cấu tổ chức, các giáo phái có cơ cấu hoàn bị và tự trị; nhưng càng về sau thì chịu sự giám sát, quản lý của triều đình. Thuở đầu khi Trương Lăng sáng lập, Ngũ Đấu Mễ Đạo có 24 đơn vị giáo khu gọi là 24 Trị. Sau đó, khi Trương Lỗ cát cứ và thống trị Hán Trung, cái chế độ chính trị và tôn giáo hợp nhất này ấn định chức Tế Tửu như là một đầu lĩnh chính trị kiêm tôn giáo của mỗi Trị. Chế độ Tế Tửu này suy tàn khi chính quyền Hán Trung bị tiêu diệt. Cuối đời Đông Tấn, các phái Thượng Thanh và Linh Bảo thiết lập chế độ Đạo Quán làm nơi quy tụ tín đồ và thực hành lễ nghi cũng như tu tập. Tại mỗi quán, dần dần hình thành chế độ quản lý và giới luật. Từ đời Tùy, đời Đường, các quán nhỏ vẫn gọi là quán, còn các quán lớn thì gọi là cung. Từ Nam Bắc Triều, triều đình ấn định chế độ kiểm soát các giáo phái. Đời Nguyên, chế độ kiểm soát càng nghiêm mật. Triều đình lập Tập Hiền Viện để quản lý các giáo phái. Các giáo phái đều tuân theo khu vực hành chính của nhà Nguyên: ở mỗi Lộ triều đình lập một Đạo Lục Ty, đứng đầu là Đạo Lục hay Đạo Phán. Ở mỗi Châu thì có Đạo Chính Ty, đứng đầu là Đạo Chính hay Đạo Phán. Ở mỗi Huyện thì có Uy Nghi Ty, đứng đầu là Uy Nghi. Người cai quản một cung hay quán gọi là Trụ Trì, hay Đề Cử, hay Đề Điểm. Qua đời Minh, tại Kinh Sư có Đạo Lục Ty tổng quản lý Đạo giáo. Ở mỗi Phủ có Đạo Kỷ Ty, mỗi Châu có Đạo Chính Ty, mỗi Huyện có Đạo Hội Ty.

 5. Một số giáo phái chính của Đạo giáo Trung Quốc thời kỳ đầu

Giáo phái đầu tiên là Ngũ Đấu Mễ Đạo xuất hiện vào đời Đông Hán (25-220), triều vua Thuận Đế (126-144). Sau đó, giữa những năm Kiến Ninh và Hi Bình (168-177) dưới triều Hán Linh Đế (168-189), Thái Bình Đạo được hình thành. Cho đến đời Đông Tấn (317-420) và Nam Bắc Triều (420-589), có thêm nhiều giáo phái xuất hiện như Thượng Thanh, Linh Bảo, Lâu Quán, v.v… Đến đời Nam Tống (1127-1279) và đời Kim (1115-1234), phía Bắc xuất hiện Toàn Chân Đạo, Chân Đại Đạo, Thái Nhất Đạo, v.v… và phía Nam xuất hiện Thiên Tâm Phái, Thần Tiêu Phái, Thanh Vi Phái, Đông Hoa Phái, Tịnh Minh Đạo, v.v… Đó là giai đoạn phát triển cực thịnh của Đạo giáo.

a.  Chính Nhất đạo (Ngũ Đấu Mễ Đạo)

Đây là môn phái đầu tiên của Đạo giáo ở Trung Quốc. Người sáng lập ra môn phái này là Trương Đạo Lăng, tự là Phụ Hán (giúp nhà Hán), người nước Phái (Bái), quê đất Phong (nay là huyện Phong, tỉnh Giang Tô). Ông thuộc hậu duệ của Hán Lưu Hầu Trương Lương. Trương Lăng xuất thân là một đại nho. Thuở nhỏ ông đã tinh nghiên Đạo Đức Kinh, thiên văn, địa lý, Hà Đồ, Lạc Thư, thông đạt Ngũ Kinh. Đời Hán Minh Đế (58-75), ông làm quan lệnh ở Giang Châu thuộc Ba Quận (nay là Trùng Khánh, Tứ Xuyên). Cho rằng Nho học vô ích, ông bèn học đạo trường sinh, ẩn cư trong núi Bắc Mang Sơn. Triều đình phong chức bác sĩ cho ông nhưng ông thác bệnh và từ chối. Hán Hoà Đế (tại vị 89-105) ba lần ra chiếu phong ông làm quan Thái Phó nhưng ông vẫn từ chối. Đời Hán Thuận Đế (126-144), Trương Lăng vào Ba Thục, tu đạo ở núi Hạc Minh Sơn (cũng gọi Cốc Minh Sơn), tự xưng được Thái Thượng Lão Quân truyền đạo Chính Nhất Minh Uy, nên xưng là Tam Thiên Pháp Sư Chính Nhất Chân Nhân; còn nói Lão Quân phong ông làm Thiên Sư, nên đạo này cũng gọi là Thiên Sư Đạo. Năm 141 ông sáng tác đạo kinh, tôn Lão Tử làm giáo chủ. Trước tiên ông trị bệnh để thu hút quần chúng và sau đó là truyền đạo. Khi quy tụ được đông đảo quần chúng, Trương Lăng (bấy giờ bắt đầu gọi là Trương Đạo Lăng hay Trương Thiên Sư) tổ chức 24 điểm truyền đạo gọi là 24 Trị, trong đó ba trung tâm lớn là Dương Bình Trị, Lộc Đường Trị, và Hạc Minh Trị. Người nhập đạo phải nộp 5 đấu gạo (gọi là tín mễ), do đó đạo này gọi tên là Ngũ Đấu Mễ Đạo (đạo 5 đấu gạo). Đạo này còn được gọi là Mễ Vu bởi vì chịu ảnh hưởng nặng nề của vu giáo của dân tộc thiểu số tại Ba Thục.

Như vậy, không phải Lão Tử mà chính là Trương Đạo Lăng mới là thủy tổ của Đạo giáo. Lão Tử chỉ được Trương Đạo Lăng suy tôn làm giáo chủ mà thôi. Còn bình sinh khi còn sống, Lão Tử là một triết gia trác việt, nhưng tuyệt nhiên không phải là một bậc thần tiên.

Từ đời thứ tư, cháu của Trương Đạo Lăng là Trương Thịnh đời Ngụy từ Hán Trung quay trở về Long Hổ sơn (Giang Tây), mở đầu giảng Chính nhất kinh. Con cháu của Trương Thịnh đời ở trong núi truyền bá đạo giáo. Sau đời Đường, Tống, Long Hổ sơn trở thành trung tâm của Chính nhất đạo. Niên hiệu Thiên Bảo thứ 7 đời Đường (748) sách phong Trương Đạo Lăng là “Thái sư”; niên hiệu Đại Trung Tường Phù đời Tống có sắc đổi Chân tiên quán trên Long Hổ sơn thành Thượng Thanh quán, ban hiệu cho Trương Chính Tùy (cháu đời 24 của Thiên Sư) là “Chân Tĩnh tiên sinh”.

Từ đó, Thiên sư Chính Nhất ở Long Hổ Sơn thống lĩnh các phái phù lục (phù lục nghĩa là phương pháp sử dụng bùa chú, cầu đảo, pháp thuật) vùng Giang Nam. Đời Nguyên, Nguyên Thế tổ ra lệnh cho Thiên sư đời 36 là Trương Tông Diễn chủ lĩnh việc Đạo giáo ở vùng Giang Nam. Niên hiệu Đại Đức thứ 8 đời Nguyên Thành tông (1304) trao cho Thiên sư đời thứ 38 giữ chức Giáo chủ Chính Nhất, các đạo phái Giang Nam gọi chung là Chính Nhất đạo, đại biểu là Chính Nhất Thiên sư ở Long Hổ sơn. Toàn Chân phái đang hưng thịnh ở miền bắc Trung Quốc cùng với Chính Nhất đạo ở Giang Nam được coi là hai phái lớn nhất của Đạo giáo. Triều Minh sắc phong cho Chính Nhất Thiên sư ở Long Hổ sơn là “Chính nhất tự giáo chân nhân”, nắm quyền coi sóc Đạo giáo trong thiên hạ. Địa vị của Đạo giáo đến đây được đề cao hơn cả đời Nguyên. Đầu đời Thanh vẫn dùng quy định như ở đời Minh. Đến triều Càn Long, Chính Nhất chân nhân bị các triều thần phản đối, từ đó về sau Chính Nhất đạo suy yếu dần.

b.  Thái Bình đạo

Thái Bình Đạo cũng là giáo phái thành lập trong giai đoạn đầu của Đạo giáo, xuất hiện từ đời Đông Hán triều vua Thuận Đế (tại vị 126-144) về sau, như là kết quả tự nhiên của học thuyết Hoàng Lão và thần tiên phương thuật thịnh hành bấy giờ. Tổ chức Đạo giáo đời Đông Hán thoạt tiên phát khởi từ dân gian, chủ yếu là Thái Bình Đạo ở phương Đông và Ngũ Đấu Mễ Đạo ở phương Tây Nam. Thái Bình Đạo là do Trương Giác, người Cự Lộc (nay là Hà Bắc), lập ra. Theo truyện Tương Khải trong Hậu Hán Thư đã chép, Vu Cát là một phương sĩ ở Lang Nha (nay ở phía Bắc của Lâm Cân tỉnh Sơn Đông) sáng tác một quyển Thần Thư (tức Thái Bình Thanh Lĩnh Kinh, gọi tắt là Thái Bình Kinh, gồm 170 quyển) và một đệ tử của Vu Cát đã dâng sách này cho vua Hán Thuận Đế (tại vị 126-144). Được xem là kinh điển tối yếu trong giai đoạn ban đầu hình thành Đạo giáo, quyển đạo kinh này bàn về phụng thờ trời đất, thuận theo âm dương ngũ hành, tảo trừ đại loạn, giúp thiên hạ thái bình, sách còn bàn sự hưng phế của quốc gia, phương pháp dưỡng sinh, cách tu luyện thành thần tiên, bùa chú, v.v… Triều đình cho rằng đây là sách tà đạo nên tịch thu. Theo Tam Quốc Chí, Vu Cát đến đất Cối và Ngô (nay là huyện Cối Kê của Chiết Giang và huyện Ngô của Giang Tô) lập tịnh xá, đốt hương tụng đọc đạo thư, tế tạo phù lục bùa chú, lấy nước trị bệnh, thu hút đông đảo quần chúng. Tôn Sách cho là tà đạo nên giết Vu Cát. Tuy nhiên, Thái Bình Kinh lại lưu truyền trong dân gian. Bấy giờ là cuối đời Đông Hán, bọn ngoại thích và hoạn quan lũng đoạn triều chính, cường hào và địa chủ nắm giữ đất đai, lại thêm bệnh dịch hoành hành, nên nông dân điêu linh thống khổ đến nỗi đã nổi loạn. Nhân dịp này, Trương Giác lợi dụng Thái Bình Kinh để lập giáo, tên gọi là Thái Bình Đạo. Trương Giác sai 8 đệ tử đi khắp bốn phương giáo hóa thiên hạ, trong vòng hơn 10 năm, giáo đồ phát triển lên tới vài vạn người, bèn đặt ra 36 trụ sở ở khắp nơi thống lĩnh giáo đồ rồi phát động cuộc khởi nghĩa Khăn vàng (Hoàng cân) vào niên hiệu Trung Bình nguyên (184). Trong vòng vài tháng, thiên hạ khắp nơi hưởng ứng, kinh sư chấn động. Sau khởi nghĩa thất bại, Thái Bình đạo suy yếu dần.

Tuy đã suy vong nhưng Thái Bình Đạo vẫn còn ảnh hưởng mạnh mẽ tới các giáo phái về sau. Những quan niệm về thuật số, gậy 9 khúc (cửu tiết trượng) mà Trương Giác từng dùng, áo vàng mũ vàng của đạo sĩ, cách dùng phù thủy và bùa chú trị bệnh, v.v… của Thái Bình Đạo đều được các giáo phái về sau kế thừa. Minh Giáo đời Đường và đời Tống đã tôn Trương Giác làm giáo chủ.

c.  Toàn Chân đạo

Toàn Chân đạo là môn phái lớn nhất của Đạo giáo ở khu vực phía Bắc. Toàn Chân giáo là do Vương Triết (hiệu là Trùng Dương, nên còn gọi là Vương Trùng Dương), sáng lập. Vương Trùng Dương người ở Hàm Dương, Thiểm Tây, tự xưng là đã gặp tiên nhân Lã Động Tân ở trấn Cam Hà, được truyền khẩu quyết Đạo giáo, rồi bèn bỏ nhà vào núi Chung Nam Sơn tu đạo. Niên hiệu Đại Định thứ 7 đời Kim (1167), ông đốt am bỏ đi về phương đông, thu nhận 7 đại đệ tử.

Toàn Chân đạo sử dụng Đạo đức kinh, Hiếu kinh, Bát nhã tâm kinh làm kinh điển, dạy đồ đệ các nguyên lý hiếu kính, chính tâm, thành ý, giảm bớt tham muốn cá nhân, cho rằng minh tâm kiến tính là chân lý hoàn toàn (toàn chân).

Niên hiệu Đại Định thứ 9 (1169), Vương Trùng Dương dẫn các đồ đệ quay về phương tây, giữa đường ông lên tiên, nhắn đệ tử Mã Ngọc thừa kế truyền giáo. Mã Ngọc truyền giáo ở vùng Quan Trung, bị quan lại vùng đó ngờ vực, bèn trao giáo sự cho Khâu Xứ Cơ, còn bản thân thì quay về quê cũ. Khâu Xứ Cơ nắm quyền giáo phái, nhờ ảnh hưởng lớn trong dân gian nên được triều Kim coi trọng. Khoảng giữa đời Kim và Nguyên, chiến loạn liên miên, nhân dân khổ ải. Khâu Xứ Cơ vâng chiếu chỉ của Thành Cát Tư Hãn đến tận vùng Tuyết Sơn ở Tây Vực yết kiến và được Thành Cát Tư Hãn tiếp đãi long trọng. Từ đó, Toàn Chân đạo bước vào thời kỳ toàn thịnh.

Dưới triều Nguyên, các tổ sư Toàn Chân đạo đời nào cũng được phong tặng, đình viện tự quán xây dựng khắp nơi, lễ nghi tôn giáo đạt đến bước hoàn chỉnh hơn. Đời Minh, Đạo giáo chia thành hai phái lớn: Chính Nhất đạo và Toàn Chân đạo.

d.  Bạch Gia đạo

Bạch Gia Đạo là một giáo phái xuất hiện vào thời kỳ ban đầu của Đạo giáo, hoạt động vào đời Ngụy-Tấn (220-420) ở phương bắc và phương nam (vùng Giang Tô và Chiết Giang). Nguồn gốc của giáo phái này đến nay vẫn chưa rõ. Tương truyền tổ sư của giáo phái này là Bạch Hòa, và tên giáo phái đặt theo họ của tổ sư. Theo Thần tiên truyện của Cát Hồng, Bạch Hòa tự là Trọng Lý, quê ở Liêu Đông. Thầy của Bạch Hòa là Đổng Phụng, vốn là một thần nhân sống thời Tôn Quyền (nước Ngô, thời Tam Quốc). Nhiều thuyết nói rằng Vu Cát truyền Thái Bình Kinh cho Bạch Hòa, điều này cho thấy sự liên hệ giữa Bạch Gia Đạo và Thái Bình Đạo.

Về sau, Bạch Hòa đến Tây Thành Sơn phục vụ Vương Phương Bình rồi ông được phép nhập thạch thất, diện bích (ngó vách) 3 năm. Nơi đây ông xem được các bản văn khắc vào vách của cổ nhân như: Thái Thanh Trung Kinh Thần Đan Phương, Tam Hoàng Thiên Văn Đại Tự, Ngũ Nhạc Chân Hình Đồ. Sau đó ông lên núi Lâm Lự Sơn (còn gọi Long Lự Sơn), thành địa tiên. Về Bạch Hòa, Thần Tiên Truyện chép: “Bạch Hòa tự là Trọng Lý. Ông được Đổng tiên sinh [tức Đổng Phụng] dạy hành khí và tịch cốc. Rồi ông đến Tây Thành Sơn bái Vương Quân [tức Vương Phương Bình] làm thầy. Vương Quân nói: ‘Yếu quyết của đại đạo không thể nhất thời mà đạt được. Ta tạm đến đảo tiên Doanh Châu, ngươi hãy vào thạch thất này, nhìn chăm chú vào vách đá, lâu ngày trên vách sẽ hiện ra chữ, thấy chữ thì phải đọc hiểu, rồi ngươi sẽ đắc đạo.’ Do đó Bạch Hòa bắt đầu nhìn vách, sau một năm ông không thấy gì, nhưng sau 2 năm thì thấy vách đá hiện chữ lờ mờ, sau 3 năm thì vách đá hiện rõ chữ. Đó là các bộ Thái Thanh Trung Kinh, Thần Đan Phương, Tam Hoàng Trượng Ngũ Nhạc Đồ. Ông tụng niệm vang vang. Vương Quân trở về nói: ‘Ngươi đắc đạo rồi.’ Sau đó Bạch Hòa luyện thần đan, uống nửa tễ thì trường sinh bất tử”.

 Theo đó, Bạch Hòa là đạo sĩ thời Tam Quốc. Nhưng Thủy Kinh chú, quyển 15, chép: “Phía tây nam sông Triền có ngôi mộ của Bạch Trọng Lý, mộ bia khắc ‘Chân nhân Bạch quân chi biểu’. Trọng Lý tên là Hộ, người Ba Quận, Ích Châu. Lập mộ tháng 11, năm Vĩnh Gia thứ 2 (tức 309), đời Tấn Hoài Đế”. Tức là Bạch Hòa sống vào thời Tây Tấn (265 – 316).

Vì Bạch Hòa quá nổi tiếng, đời Tây Tấn có nhiều đạo sĩ mượn danh Bạch Hòa truyền giáo cho giới quần chúng bình dân ở phía bắc và ở phía nam (vùng Giang Tô và Chiết Giang). Chương ‘Khư hoặc’ trong Bão Phác Tử chép: “Lại có kẻ giả mạo đạo sĩ nổi danh đời trước, thí dụ như Bạch Hòa nghe nói là đến tám ngàn bảy trăm (8700) tuổi, lúc thì xuất hiện chốn thế gian, lúc thì đột nhiên biến mất, không ai biết ông ở đâu. Tại Lạc Dương có đạo sĩ nọ, thông thạo mọi việc, tu luyện các loại thuật số. Ông ta nêu những vấn đề hóc búa để chất vấn Bạch Hòa. Hòa nghe đến đâu trả lời đến đấy không chút ngập ngừng. Quả là biết rộng. […] Sau Hòa bỗng đi mất, không ai biết chỗ của ông. Có người ở Hà Bắc tự xưng là Bạch Hòa, nên mọi người xa gần cũng đến phục vụ ông, ông ta trở nên thật giàu có. Đệ tử Bạch Hòa nghe Thầy tái xuất, rất mừng, bèn đến xem thực hư ra sao. Kẻ kia vì thế mà bỏ chạy mất”.

Qua đoạn văn trên, ta thấy vào đời Tây Tấn đã có đạo sĩ giả danh Bạch Hòa và lập giáo. Hơn nữa, tại Hà Bắc là Lạc Dương đã có đệ tử của Bạch Hòa, nhưng bấy giờ tổ chức và quy mô chưa lớn. Họ lấy các bộ kinh mà Bạch Hòa sở đắc (như Thái Thanh Trung Kinh Thần Đan Phương, Tam Hoàng Thiên Văn Đại Tự, Ngũ Nhạc Chân Hình Đồ) để truyền thừa.

Bạch Gia Đạo, Thái Bình Đạo (Thiên Sư Đạo), và Thượng Thanh Phái có liên quan với nhau về mặt kinh điển. Theo truyền thuyết, Thái Thượng Lão Quân truyền Thái Bình Kinh cho Vu Cát, rồi Vu Cát truyền lại cho Bạch Hòa. Cũng theo truyền thuyết, Kim Khuyết Hậu Thánh Đế Quân truyền Tố Thư (tức Thái Bình Kinh Phục Văn) cho Thanh Đồng Quân, Thanh Đồng Quân truyền lại cho Vương Phương Bình (ở Tây Thành), Vương Phương Bình truyền lại cho Bạch Hòa.

Bạch Gia Đạo thoạt đầu là tín ngưỡng bình dân, cũng gọi là “tục thần đảo” vì thờ các tục thần và dâng cúng các thứ huyết thực. Đến đời Đông Tấn (317-420), Bạch Gia Đạo phát triển ở Giang Tô và Chiết Giang, không ít tín đồ thuộc giai cấp sĩ tộc thế gia. Từ đời Đông Tấn trở đi, sử sách không ghi chép về Bạch Gia Đạo, nhưng do mối quan hệ giữa giáo phái này với Thượng Thanh Phái và Thiên Sư Đạo, có lẽ Bạch Gia Đạo đã sáp nhập vào hai giáo phái đó.

e.  Phương Tiên đạo

Ngoài Chính Nhất đạo, Thái Bình Đạo, Toàn Chân đạo, Bạch Gia đạo còn phải kể đến Phương Tiên đạo. Phương Tiên đạo là môn phái đạo giáo hưng khởi suốt vùng bờ biển nước Yên, nước Tề thời Chiến Quốc. Điểm nổi bật của Phương Tiên đạo là việc đi tìm thuốc tiên ở những nơi họ cho rằng có tiên ở. Từ đời Uy Vương, Tuyên Vương nước Tề hay Chiêu Vương nước Yên, cho đến Tần Thủy Hoàng, Hán Võ Đế đều tin rằng ở ngoài biển có ba ngọn núi thần, có tiên ở, đó là núi Bồng Lai, núi Phương Trượng, và núi Doanh Châu. Họ cho rằng trên các núi ấy có thần tiên ở và có thuốc trường sinh. Đó là lý do Phương Tiên đạo khởi nguồn và thịnh hành. Đã có nhiều chuyến đi biển tìm tới đảo thần tiên, nhưng tất cả đều thất bại. Có chuyến đi lạc vào vùng biển Nhật Bản ngày nay.

6. Phương pháp tu luyện

Đạo gia chủ trương thuận theo quy luật tự nhiên, diệt tham – dục để dưỡng thân, nuôi an tịnh để dưỡng thần. Thân thần không khiếm khuyết thì có thể sống lâu. Dưỡng sinh bằng phương pháp dưỡng thân dưỡng thần qua chủ trương “vô vi tự nhiên”.

Có rất nhiều phương pháp tu và luyện, xin nêu một vài phương pháp thường gặp:

Đan đạo (thuật luyện đan): Gồm có ngoại đan và nội đan:

Ngoại đan: tức là dùng các loại khoáng dược luyện thành tiên đan. Trước đây, các Đạo gia cho rằng thuốc này uống vào có thể trường sinh bất lão hoặc có thể trở thành thần tiên. Tuy nhiên, vào đời Đường, có tới 6 vị Hoàng đế chết vì uống đan dược ([1]), vì vậy, thuật này bị chỉ trích. Các kẻ uống đan dược (kể cả thuật sỹ luyện đan) bắt đầu sinh nghi ngờ. Thuật ngoại đan từ đời Đường trở về sau dần suy vi. Các đạo sỹ đi tìm thuật trường sinh quay trở về tu luyện thuật nội đan.

Nội đan: tức là luyện tập, dùng Tinh và Khí làm dược liệu, vận dụng Thần, trải qua trình tự tu luyện nhất định, làm cho Tinh – Khí – Thần  biến thành nội đan, kết lại ở đan điền. Đan dược kết tụ ở đan điền này còn gọi Thánh thai.

Đạo dẫn (phương pháp luyện thở và vận động thân thể): đây là phương pháp dựa trên thuật dưỡng sinh cổ đại của Trung Quốc, chủ yếu là vận động thân thể phối hợp với phương pháp hành khí, xoa bóp để trị bệnh. Có hàng ngàn phương pháp đạo dẫn khác nhau.

Tọa vong (tĩnh tọa quên thân): là phương pháp công phu ngồi tĩnh tọa. Trang Tử viết: “Hủy hoại thân thể, phế trừ trí tuệ, rời bỏ hình hài, trừ bỏ tri thức, hợp cùng cảnh giới đại đạo, đó gọi là tĩnh tọa quên thân”.

Phục thực (còn gọi là Phục nhĩ): tức là phương pháp ăn uống bằng thảo dược như củ hoàng tinh, bách hợp, câu kỷ, tùng tử, phục linh, hà thủ ô v.v… để đạt được trường sinh.

Tịch cốc(không ăn ngũ cốc): Còn gọi là Đoạn cốc hay Bế cốc. Phương pháp này đòi hỏi người tu luyện không được ăn ngũ cốc và ăn thịt, nhưng vẫn cần uống thuốc và ăn các thứ khác và thực hành các công phu thực khí, đạo dẫn với mục đích làm sạch ruột và dạ dày.

7. Các vị thần tổ của Đạo giáo Trung Quốc

Hệ thống thần tiên trong Đạo giáo Trung Quốc rất phong phú. Dưới đây chúng tôi chỉ xin trích giới thiệu một số vị đại diện và khá quen thuộc với người Việt nam.

Các vị thần Thủy tổ của dân tộc Trung Hoa

Hoàng Đế Hiên Viên Thị (còn gọi là Hoàng Đế):

Đất nước Trung Hoa được gọi là đất của Viêm Hoàng, nghĩa là đất đai của Viêm Đế và Hoàng Đế. Họ là thủy tổ của dân tộc Trung Hoa, là thủy tổ khai sáng ra nền văn minh sông Hoàng Hà và văn minh lưu vực sông Trường Giang.

Ông là thủ lĩnh bộ tộc vĩ đại cuối xã hội nguyên thủy. Vì cư trú ở gò Hiên Viên (nay là Hiên Viên khâu, huyện Tân Trịnh, Hà Nam) nên gọi tên là Hiên Viên. Ông họ Cơ. Tổ tiên là Hữu Hùng thị, nên lại có hiệu là Hữu Hùng; lại vì sùng thượng màu vàng của đất nên gọi là Hoàng Đế (vua vàng). Bộ lạc của ông vốn định cư trên vùng cao nguyên tây bắc.

Ông và triều đại của ông được cho là đã có nhiều phát minh như về thiên văn lịch pháp, chữ viết, xe cộ, cung thất, toán số, âm luật.

Lăng mộ ông hiện vẫn còn ở Kiều Sơn, Thiểm Tây. Ngoài ra, ở nhiều nơi khác cũng có lăng mộ ông, như Cam Túc, Hà Bắc, Hà Nam, nhưng lăng mộ ở Kiều Sơn là nổi tiếng nhất.

Viêm Đế Thần Nông Thị

Là người khai sinh ra nông nghiệp Trung Hoa, là thủy tổ của văn minh canh nông Trung Hoa. Ông cũng được tôn xưng và thủy tổ của dân tộc Trung Hoa.

Thần Nông phát minh ra công cụ lao động nông nghiệp như lưỡi cày, liềm, cào, phát minh ra đồ gốm, lại giúp dân trồng dâu nuôi tằm. Ngoài ra, ông còn được coi là vị tổ ngành y dược Trung Hoa vì đã từng nếm hàng trăm loại cây cỏ để tìm ra dược liệu chữa bệnh.

Nữ Oa Nương Nương

Trong số các vị thần tổ của Trung Hoa, Nữ Oa Nương Nương là nữ thần có tiếng tăm quyền lực lớn nhất. Nữ Oa được coi là vị thần cổ xưa được dân gian sùng bái. Trong truyền thuyết thần thoại, Nữ Oa lại được coi là thần thủy tổ sáng tạo ra vạn vật và là nữ thần có thần thông quảng đại.

Có nhiều truyền thuyết về Nữ Oa Nương Nương. Có truyền thuyết cho rằng Nữ Oa tạo ra con người bằng cách nhào đất và nước và nặn ra hình người phỏng theo hình dạng của chính bản thân mình. Lại có truyền thuyết cho rằng Nữ Oa luyện đá vá trời để cứu nhân loại. Vì vậy, Nữ Oa được coi là thần bảo hộ.

Các chân nhân, tổ sư và thần tiên của Đạo giáo

Bát tiên

Bát tiên (8 vị tiên) là một nhóm thần tiên được dân gian tôn thờ, gồm có: Lý Thiết Quài, Chung Ly Quyền, Trương Quả Lão, Hà tiên cô, Lam Thái Hòa, Lã Động Tân, Hàn Tương Tử, Tào Quốc Cữu. Trong tám vị tiên này, có đủ cả nam, nữ, già, trẻ, giàu có, nghèo hèn, văn vẻ, thô lỗ… phản ánh đủ các loại người trong xã hội.

Câu chuyện nổi tiếng liên quan đến bát tiên là “bát tiên quá hải”. Chuyện như sau: “Bạch Vân tiên trưởng mở yến hội mời Bát tiên và Ngũ thánh (Tề Thiên, Thông Thiên, Lãm Hải, Phan Giang, Di Sơn) đến thưởng lãm hoa mẫu đơn. Khi yến tiệc tan, trên đường trở về, nhóm bát tiên mỗi người mang bảo bối của mình vượt qua biển hiển lộ thần thông. Con của Long Hải Long Vương là Ma Yết và Long Độc đánh cướp tấm ngọc của Lam Thái Hòa và bắt cả vị này xuống biển. Bảy vị tiên còn lại nổi giận, làm nên trận ác chiến, giết chết Ma Yết, đánh bị thương Long Độc. Tứ Hải Long Vương cùng đến tham chiến nhưng đánh không thắng nổi bảy vị tiên nên cầu xin các thần khác trợ giúp. Ngũ thánh cũng tới giúp bát tiên. Cuối cùng, Phật Như Lai xuất hiện, mời bát tiên và Tứ Hải Long Vương, Ngũ thánh tới núi Linh Sơn giảng hòa”.

Cát tiên ông (Cát Hồng)

(Có sách gọi Cát Hồng là Tiểu Cát tiên ông, gọi Cát Huyền (chú của Cát Hồng) là Cát tiên ông).

Cát Hồng (284-364), tên tự là Trĩ Xuyên, người Cú Dung, Giang Tô. Ông sinh ra trong một gia đình danh gia vọng tộc. Thời nhỏ thông minh học giỏi, có tài thơ phú. Đã từng được giữ chức Phục Ba tướng quân. Tuy nhiên, ông chỉ thích tu tiên.

Chú của Cát Hồng là Cát Huyền. Cát Huyền là môn đồ của đạo sỹ và nhà luyện đan trứ danh Tả Từ thời Tam quốc, người đã từng đùa giỡn với Tào Tháo. Đạo của Cát Huyền rất cao siêu. Sinh ra trong gia đình có truyền thống như vậy nên Cát Hồng được truyền bí thuật luyện đan của ông tổ.

Năm ngoài 40 tuổi, Cát Hồng từ quan, từ biệt gia đình, dẫn theo một nô bộc đi chu du vùng Giang Nam. Ông lưu lại vùng núi Tây Sơn lĩnh (nay thuộc Hàng Châu), vừa tu luyện vừa hái thuốc trị bệnh giúp dân, nên được gọi là Cát tiên ông.

Tác phẩm lớn nhất của ông là bộ Bão Phác Tử gồm 70 cuốn. “Bão Phác” có nghĩa là giữ cái chân tính gốc, không bị dụ hoặc bởi ngoại vật. Suốt đời Cát Hồng sống theo cách đó, không hề thẹn với cái tên Bão Phác Tử. Cát Hồng được coi là nhà lý luận quan trọng bậc nhất của Đạo giáo Trung Quốc.

Chân Võ Đại Đế

Chân Võ Đại Đế có hình tượng mặc áo đen, tay cầm kiếm báu, chân đạp lên quy xà (rắn và rùa quấn chặt vào nhau), hai bên là hai vệ sỹ cầm cờ đen và kim đồng ngọc nữ. Nguyên thủy tên là Huyền Võ, đến thời Đường, do kiêng chữ Huyền nên đổi thành Chân, đến thời Tống do kiêng chữ Chân nên đổi thành Trấn. Vì thế, thần có tên là Huyền Vũ Đế, Chân Vũ Đế hay Trấn Vũ Đế. Quán Trấn Vũ bên hồ Trúc Bạch tại Hà nội chính là thờ vị này.

Sách Đạo giáo chép rằng: Thời Hoàng Đế, Huyền Võ (tức Chân Võ) thác sinh vào thánh thai của Thiện Thắng Hoàng Hậu nước Tĩnh Lạc, chui ra từ nách trái. Lớn lên tướng mạo dũng mãnh. Vị thái tử ấy không thích nối tiếp ngôi vua mà bỏ đi học đạo, được Tử Nguyên Quân truyền trao bí pháp và được Thiên thần trao kiếm báu, vào núi Võ Đang tu luyện, đến năm 42 tuổi thành tiên lên trời, phụng mệnh Ngọc đế trấn thủ phương bắc với chức Huyền Thiên Thượng đế. Các miếu thờ Chân Võ đế được xây dựng ở khắp nơi, nhưng thánh địa là Kim điện tại núi Võ Đang.

Cửu Thiên Huyền Nữ

Còn gọi là Cửu Thiên, Huyền Nữ, Cửu Thiên nương nương. Là nữ thần trong thần thoại cổ đại Trung Quốc, sau được Đạo giáo tôn thờ, trở thành một vị nữ tiên rất có ảnh hưởng trong dân gian.

Cửu Thiên Huyền Nữ vốn có nguồn gốc từ phong tục thờ vật tổ là “Huyền điểu” ở đời Ân Thương. Truyền thuyết kể rằng, nàng Giản Địch, con gái họ Hữu Nhung được chim Huyền điểu tặng cho một trứng, nàng nuốt vào bụng rồi sau sinh ra ông Tiết, tức ông tổ của nhà Thương. Huyền điểu sau này hóa thân thành Huyền Nữ. Về sau, Đạo giáo thần thánh hóa Huyền Nữ thành một vị nữ tiên hay cứu khổn phò nguy và được nhân dân tôn thờ, lập miếu ở khắp nơi.

Hàn Tương Tử

Hàn Tương Tử vốn tên là Hàn Tương, là chắt của Hàn Dũ, một đại học gia, quan Hình bộ Thị lang đời Đường. Tuy nhiên, sách không chép gì về việc Hàn Tương học đạo thành tiên.

Hậu Thổ Địa chi (thần đất)

Hậu thổ là một trong các thiên đế quan trọng của Đạo giáo, tên gọi đầy đủ là: “Thừa thiên hiệu pháp Hậu đức quang đại Hậu Thổ hoàng địa chi”, phối hợp cùng với Ngọc Hoàng đại đế trên cõi trời và được gọi chung là “Thiên công địa mẫu”. Hậu thổ địa chi thể hiện thành tượng hình người nữ, do nghĩa đất là âm. Các đạo sỹ cho rằng Thần Hậu Thổ cai quản việc âm dương sinh sản và coi đây là vị Nữ Thiên Đế làm chủ khắp núi non đất đai.

Hứa Chân Quân (Hứa Tốn)

Trong tiểu thuyết Tây du ký có miêu tả thế giới thần quái tiên phật rộng lớn và kỳ dị. Đại đa số các thần quái ấy có ảnh hưởng rộng rãi trong dân gian. Trong số đó nổi tiếng nhất là 4 vị Đại thiên sư hộ vệ Ngọc Hoàng ở Linh tiêu bảo điện, gồm Trương Đạo Lăng, Cát Hồng, Hứa Tốn và Khâu Xứ Cơ. Cả bốn vị này đều là người có thật và đều là những đạo sỹ cao cường của Trung Quốc cổ đại.

Hứa Tốn (239-374) là đạo sỹ nổi tiếng đời Đông Tấn, sống 135 tuổi. Tuổi trẻ thích săn bắn. Sau ngộ đạo, giỏi tu thuật thần tiên. Từng làm quan huyện lệnh Tinh Dương (nay là huyện Đức Dương, Tứ Xuyên), rất thanh liêm. Sau khi vũ hóa (chết) thì vẫn giáng trần khi có cầu đảo để cứu độ dân chúng.

Khâu Chân Quân (Khâu Xứ Cơ)

Khâu Xứ Cơ (1148-1227) là đạo sỹ nổi tiếng thời Kim, Nguyên, từng được Nguyên Thái tổ Thành Cát Tư Hãn tôn xưng là “Khâu thần tiên”.

Tuổi trẻ, ông yêu thích đời sống thần tiên, bỏ nhà đến núi Côn Lôn Ninh Hải (Sơn Đông) tu hành. Gặp khi tổ sư Toàn Chân đạo là Vương Trùng Dương đến Sơn Đông truyền đạo, Khâu Xứ Cơ xin bái Vương Trùng Dương làm thầy. Khâu Xứ Cơ thông minh, mau chóng trở thành một trong bảy đệ tử của Vương Trùng Dương. Sau khi Vương Trùng Dương qua đời, các đệ tử chia nhau đi truyền đạo ở khắp nơi.

Khâu Xứ Cơ đến Bàn Khê, khổ tu 6 năm. Sau chuyển đến Long Môn ẩn tu, sau trở thành người khai sáng Long Môn phái của Toàn Chân đạo. Năm 72 tuổi, ông tới xứ Tây Vực yết kiến Thành Cát Tư Hãn, chiếm được nhiều cảm tình của vị hoàng đế này. Vì thế, Toàn Chân đạo bước vào thời kỳ cực thịnh.

Lã Động Tân

Lã Động Tân là một trong bát tiên, là một trong ba Lão tổ của Đạo giáo (gồm có Lão Tử, Lã Động Tân và Trần Đoàn). Như thế đủ biết ảnh hưởng của ông lớn đến như thế nào trong dân gian.

Lã Động Tân là nhân vật có thật, họ Lã tên Nham, người ở Vĩnh Lạc phủ Hà Trung (nay là Vĩnh Tế, Sơn Tây).

Trong truyền thuyết dân gian, Lã Động Tân là bậc tiên rất đa diện: “Kiếm tiên”, “Tửu tiên”, “Thi tiên”, “Sắc tiên”. Ông bỏ Nho học Đạo, chống kiếm vân du, rất hay cứu khổn phò nguy. Rất ham mê uống rượu. Ngoài ra cũng nổi tiếng là một vị “Sắc tiên” (trăng hoa). Theo truyền thuyết, ông đã ba lần bỡn cợt Bạch Mẫu Đơn (một kỹ nữ).

Trong tín ngưỡng dân gian, ông chiếm vị trí rất cao, được coi tương đương với Quan Thế Âm và Quan Đế.

Ma Cô

Ở phía nam thành Giang Tây có núi Ma Cô cảnh sắc tú lệ, là động tiên thứ 28 trong số 36 động tiên của Đạo giáo, và cũng là Phúc địa thứ 10 trong số 72 Phúc địa của Đạo giáo. Động tiên này sở hữu của nữ tiên Ma Cô, tương truyền bà đã từng ẩn cư và đắc đạo thành tiên tại đây.

Ma Cô là nữ thọ tiên trong truyền thuyết của Trung Quốc. Có nhiều thuyết khác nhau về lai lịch của vị nữ thọ tiên này. Truyền thuyết cho rằng vị nữ thọ tiên này có thể đi guốc gỗ lướt trên mặt nước chẳng khác gì Tổ sư Đạt Ma cưỡi bè lau vượt sông; và nàng có thể gieo gạo biến thành đan sa.

Lý do Ma Cô được phong là thọ tiên là vì chính bà tự nhận mình đã ba lần được chứng kiến biển đông biến thành nương dâu. Nếu quả đúng như vậy thì không biết Ma Cô thọ đến bao nhiêu tuổi.

Quan Thánh Đế Quân

Là một trong các thần Hộ pháp nổi tiếng nhất của Đạo giáo. Là vị thần có nhiều miếu thờ nhất ở Trung Quốc. Được tôn xưng là Võ Thánh nhân, đứng ngang hàng với Văn Thánh nhân là Khổng Tử. Quan miếu cũng được gọi là Võ miếu.

Văn Xương Đế Quân

Văn Xương là đại thần trong Đạo giáo, có ảnh hưởng cực lớn trong dân gian, được coi là Thần chủ tể về công danh lợi lộc trần gian, nên các học sĩ văn nhân rất tín mộ. Văn Xương vốn là tên sao, gồm 6 sao, tức gọi chung là Đẩu Khôi. Đời cổ Thiên văn học coi đây là Cát tinh chủ về đại quý. Nhân vì Văn Xương tinh và Tử Đồng Đế Quân cùng được Đạo gia tôn xưng là Thần chủ quản công danh lợi lộc nên hai vị thần này được hợp nhất thành một, gọi chung là Văn Xương Đế Quân.

Tam Thanh

Tam Thanh là ba vị thần tối cao của Đạo giáo, gồm Nguyên Thủy Thiên Tôn, Linh Bảo Thiên Tôn, và Đạo Đức Thiên Tôn (tức Lão Tử). Trong các miếu vũ lớn của Đạo giáo đều có Tam Thanh cung hoặc Tam Thanh các hoặc Tam Thanh điện với ba vị thần tôn kính bên trong, chính giữa là Nguyên Thủy Thiên Tôn, bên trái là Linh Bảo Thiên Tôn và bên phải là Đạo Đức Thiên Tôn. Nguyên Thủy Thiên Tôn đứng đầu trong Tam Thanh, là đại thần lớn nhất của Đạo giáo.

Sách Đạo kinh cho rằng Nguyên Thủy Thiên Tôn ở tại Ngọc Thanh tiên cảnh, là cảnh giới tối cao trong Tam Thiên giới. “Nguyên Thủy” có ý chỉ nguồn gốc khởi nguyên của vũ trụ, cho rằng ông sinh ra trước cả lúc vũ trụ hình thành. Khi trời đất sơ khai, ông truyền bí đạo cho các tiên để cứu giúp loài người. Có lý luận cho rằng ông với ông Bàn Cổ (người khai thiên lập địa trong truyền thuyết viễn cổ) là một, và gọi ông là “Bàn Cổ chân nhân”, hiệu là Nguyên Thủy Thiên vương, là tổ sư chủ trì cõi trời. Như vậy, theo Đạo giáo, Nguyên Thủy Thiên Tôn chính là Thượng đế.

Linh Bảo Thiên Tôn là vị thần lớn thứ hai trong Đạo giáo, tượng trưng cho cõi hỗn độn chưa tách lìa. Ông ở tại Thượng Thanh Tiên Cảnh, tầng thứ hai trong Tam thiên giới.

Đạo Đức Thiên Tôn là Thái Thượng Lão Quân hay Lão Tử. Đầu tiên, Đạo giáo coi Lão Tử là tổ sư, coi Đạo Đức Kinh là kinh điển, nhưng sau này các môn đồ thấy chỉ một mình Lão quân thì không đủ để so với Tam thế Phật của Phật giáo. Họ bèn tạo dựng lên Nguyên Thủy Thiên Tôn và Linh Bảo Thiên Tôn để tạo thế ngang bằng với Phật giáo. Lão Quân tuy vẫn là thần tối cao nhưng đã bị lùi xuống hàng thứ ba. Đạo giáo cho rằng ông cư trú ở Thái Thanh tiên cảnh.

Tây Vương Mẫu

Vương Mẫu nương nương là vị nữ thần tiên nổi tiếng, có vị trí rất cao vì là đệ nhất phu nhân trên thiên giới, vợ của Ngọc Hoàng đại đế. Đạo giáo tôn sùng Vương Mẫu, cho rằng bà là con gái của đại thần lớn nhất Đạo giáo là Nguyên Thủy Thiên Tôn, toàn bộ tiên nữ trên tiên giới đều là thuộc hạ của bà.

Thái Thượng Lão Quân

Đạo giáo tôn xưng Lão Tử là Thái Thượng Lão Quân, coi ông là tổ sư. Tuy nhiên, khi còn sống, Lão Tử chỉ là một triết gia trác việt, chứ không phải là một vị thần tiên.

Lão Tử là một nhân vật có thật trong lịch sử, tên là Lý Nhĩ hoặc Lý Đam, sống ở cuối thời Xuân Thu. Lão Tử được coi là tác giả của bộ sách “năm ngàn chữ” (sau này đổi tên là Đạo đức kinh).

Trần Đoàn Lão Tổ

Đầu đời Tống, trong Đạo giáo xuất hiện một vị “thần tiên sống” kiệt xuất, được các đạo đồ tôn xưng là Lão tổ. Vị ấy chính là Trần Đoàn, hiệu là Phù Diêu Tử. Trong lịch sử Đạo giáo, chỉ có vài vị được tôn xưng làm Lão tổ, ví dụ: Lý Lão tổ (Lão Tử), Thuần Dương Lão tổ (Lã Động Tân), và Trần Đoàn Lão tổ. Như vậy đủ biết địa vị và ảnh hưởng của Trần Đoàn trong Đạo giáo.

Trần Đoàn là một nhân vật có thật, xuất thân rất nghèo, nhưng lại được ví như con “rồng giữa loài người”. Ông có cống hiến rất lớn trên nhiều phương diện: lý luận của Đạo giáo, triết học của Nho gia, khí công của Đạo giáo, cho đến cả chính trị vương triều lúc ấy. Ông trở thành “cao nhân một đời” như lời khen của Tống Thái tông.

Thủa còn trẻ, ông rất thông minh, nhưng thi không đậu, ông tỉnh ngộ bèn bỏ nhà đi du ngoạn sơn thủy, đến núi Võ Đang ở Hà Bắc tu đạo. Tại đây, ông học khí công nội đan của Đạo giáo, phục khí, tịch cốc hơn 20 năm, nhưng mỗi ngày vẫn uống vài chén rượu. Sau hơn 20 năm, ông tuy luyện được công phu rất sâu, thâm hiểu Kinh Dịch, giỏi xem tướng pháp, đoán việc tương lai rất giỏi.

Về tu luyện nội đan, ông nổi tiếng về môn Thụy công (công phu ngủ). Ông được coi là Thụy tiên (tiên ngủ). Đây là một phép tu luyện công phu của Đạo giáo. Giấc ngủ ngắn nhất của ông là vài tháng, dài nhất là vài năm.

Có sách nói ông thọ 118 tuổi, có sách nói ông thọ 190 tuổi.

Trương Tam Phong

Là người có công dung hợp hai môn phái của Đạo giáo (Chính Nhất giáo và Toàn Chân giáo). Ông là người có học vấn rộng, là một đại võ thuật gia và tổ sư khí công, một đại ẩn tiên của Đạo giáo. Cuộc đời ông đầy vẻ kỳ bí .

Tương truyền khi trẻ Trương Tam Phong làm việc cho Hoa Châu thái thú. Một lần đi cùng Thái thú đến Hoa Sơn gặp Trần Đoàn. Sau khi ngồi yên vị, Trần Đoàn còn để trống chỗ ngồi chủ tọa, ý như còn chờ đợi ai đó. Một lúc sau, quả nhiên có một vị đạo sỹ đến nơi, thái độ rất ngạo mạn, nhưng Trần Đoàn rất cung kính. Thái thú thấy mình bị lạnh nhạt thì trong bụng tức lắm. Lúc hai người vừa cười nói xong, vị đạo sỹ mới tới lấy từ trong ống tay áo ra ba trái táo, một đỏ, một trắng, một xanh rồi nói: “Tôi đến vội vàng, không đem theo lễ vật. Chỉ có ba trái táo này, chúng ta cùng ăn với nhau vậy”.

Dứt lời, đạo sỹ ăn trái táo đỏ, đưa cho Trần Đoàn trái màu trắng, còn trái xanh đưa cho Thái thú. Thái thú cho rằng đạo sỹ khinh mình bèn đưa trái táo cho Trương Tam Phong. Trương Tam Phong nhận lấy ăn liền, tức thì cảm thấy mạnh mẽ, nhẹ nhàng. Đạo sỹ cười lớn, làm lễ cáo từ ra đi. Thái thú hỏi lý do thì Trần Đoàn đáp: “Đạo nhân ấy là tiên nhân Lã Động Tân. Ba trái táo ấy là táo tiên, chia làm ba hạng thượng, trung, hạ. Đại nhân là người tục cốt chỉ nên ăn trái xanh. Đạo tu thân không thể một bước lên tiên, dục tốc bất đạt”.

Sau khi ăn táo tiên, Trương Tam Phong bèn bỏ đi lãng tích giang hồ, hành tung bất định. Ông chủ trương sống đời phóng lãng, không chịu trói buộc bởi thế tục, thậm chí không chú ý tới cả giới luật tông giáo, chỉ cầu được tiêu dao tự tại.

Ngoài truyền thụ Đạo giáo và là một đạo sỹ giang hồ, Trương Tam Phong còn là tổ sư sáng lập Nội gia quyền phái Võ đang. Võ Đang đạo của Trương Tam Phong sau này sát nhập vào Toàn Chân đạo.

Trương Thiên Sư

Trương Thiên Sư tức Trương Đạo Lăng (34-156) hoặc Trương Lăng, người Đông Hán. Là người sáng lập ra Đạo giáo. Tông phái của ông khi mới ra đời có tên là Ngũ đấu mễ (cũng chính là Thiên Sư đạo, sau đổi tên là Chính Nhất đạo). Khi 7 tuổi, ông gặp người tiên là Hà Thượng Công trao cho bộ Đạo Đức Kinh. Trương Đạo Lăng đọc xong liền thông hiểu nghĩa kinh sách ngay. Khi lớn lên, tướng mạo ông khác thường, thân cao 9 thước 2 tấc, lông mày như rồng, mắt có ba cạnh, con ngươi xanh biếc. Ông tinh thông ngũ kinh và các môn thiên văn, địa lý, Hà đồ Lạc thư, sấm vĩ, là một nhà nho lớn thời bấy giờ.

Hoàng đế triệu ông ra làm quan nhưng ông kiên quyết từ chối, ẩn cư trong núi Hạc Minh cùng luyện đan với các đệ tử. Sau ba năm luyện được Long Hổ đan, lúc ấy ông đã ngoài 60 tuổi, sau khi uống tiên đan, ông trẻ lại như 30 tuổi, đi nhanh như ngựa chạy. Sau đó, ông được Thái Thượng Lão Quân tặng một bộ hơn ngàn quyển kinh thư, phù chú và hai thanh kiếm Thư Hùng.

Thiên sư vâng mệnh Lão Quân hàng phục thần binh long hổ, tiêu diệt ma vương, được Nguyên Thủy Thiên Tôn phong là Chính Nhất Tam thiên quyết giáo phụ Nguyên đại pháp Thiên sư. Từ đó, bất cứ ai lên trời trước tiên đều phải tham bái vị Thiên sư này, sau đó mới có thể đến Linh Tiêu bảo điện để triều bái Ngọc Hoàng đại đế.

Trương Thiên Sư được coi là có khả năng hàng yêu phục quỷ, trừ tà khử độc nên dân gian coi ông như là một loại thần bảo hộ nhà cửa. Tranh vẽ ông thường mặc đạo bào, tay cầm chén nước Tịnh thủy, cưỡi trên lưng cọp, uy phong trấn áp năm loài vật là rết, rắn cóc, thằn lằn, nhện. Dân gian cho rằng dán tranh vẽ này trước cửa nhà có thể tránh được tai họa cho cả nhà.

Vương Trùng Dương (Vương Triết)

Là tổ sư của Toàn Chân đạo, một chi phái của Đạo giáo ở khu vực bắc Trung Quốc.

Vương Triết (1112-1170) là một đạo sỹ nổi tiếng đời Kim, người Hàm Dương (nay là Thiểm Tây). Lớn lên có khí độ phi phàm, râu dài quá ngực, tiếng vọng như chuông, mặt như bạch ngọc, tài trí mẫn tiệp, sức mạnh hơn người, võ nghệ cao cường, tính tình phóng túng, không màng đến việc nhà. Tuổi nhỏ đã tinh thông kinh sử, thi văn không đậu, chuyển qua thi võ, đỗ đầu, nhưng chỉ được làm một chức quan nhỏ.

Năm 48 tuổi, chán ngán cảnh đời, ông bỏ vợ con trốn vào chốn huyền môn. Từ đó đổi tên là Vương Triết. Một lần ông say rượu ở trấn Cam Hoài cổ, gặp hai vị dị nhân dạy cho khẩu quyết chân tu. Hai người ấy chính là Lã Động Tân và Chung Ly Quyền. Sau đó, ông tìm đến thôn Lưu Tướng, núi Chung Nam (nay thuộc Thiểm Tây) tự dựng một thảo am để tu luyện, dưới đào một huyệt mộ, tự gọi đấy là “mộ của người còn sống”. Ông thâu nạp và hóa độ được 7 đại đệ tử, gồm Đan Dương chân nhân Mã Ngọc, Trường Chân chân nhân, Đàm Xứ Đoan, Trường Sinh chân nhân Lưu Xứ Huyền, Trường Xuân chân nhân Khâu Xứ Cơ, Ngọc Dương chân nhân Vương Xứ Nhất, Quảng Ninh chân nhân Hách Đại Thông, Thanh Tĩnh chân nhân Tôn Bất Nhị. Bảy vị này được gọi là “Bắc thất chân”.

Vương Trùng Dương qua đời ở tuổi 58. Sau khi ông mất, 7 vị đại đệ tử của ông đã hưng khởi giáo nghĩa, làm cho Toàn Chân đạo phổ biến khắp nam bắc, thịnh đại đến mức cực lớn, trở thành môn phái lớn nhất trong hai môn phái Đạo giáo hậu kỳ (môn phái kia là Chính Nhất đạo).


([1]) Nhà văn hóa Phan Ngọc trong cuốn Bản sắc Văn hóa Việt nam viết: “việc uống thuốc trường sinh đã làm cho gần hai trăm hoàng đế Trung Hoa phải chết”.


([1]) Xem mục Sơ lược tiểu sử tác giả và nhân vật ở cuối sách.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s