d. Đạo giáo ở Việt nam

Tóm tắt về Đạo giáo ở Việt nam

 

Nhà văn hóa Phan Ngọc viết trong cuốn “Bản sắc Văn hóa Việt nam”, đại ý như sau:

Trong quá trình giao thoa văn hóa giữa các quốc gia, có thể xảy ra hai tình huống:

Một là, khi một hiện tượng văn hóa từ ngoài du nhập vào, trong nước chưa có hiện tượng văn hóa ấy, thì thường xảy ra việc sao chép y nguyên hình thức của hiện tượng văn hóa ngoại nhập ấy, sự khác nhau chỉ nằm ở nội dung của hiện tượng văn hóa ấy. Nho giáo là một ví dụ điển hình, đó là khi du nhập vào Việt nam thì trong nước chưa có Nho giáo hoặc một hình thức tương tự, vì vậy xảy ra tình trạng sao chép y nguyên hình thức của Nho giáo: cả về chữ viết, chế độ thi cử, cách học, cách sử dụng.

Hai là, khi một hiện tượng văn hóa du nhập vào Việt nam thì ở trong nước đã có sẵn một hiện tượng văn hóa bản địa tương tự, ví dụ, Đạo giáo của Trung Quốc khi vào Việt nam thì gặp tín ngưỡng dân gian đã có ở trong nước từ rất lâu. Trong trường hợp này, sẽ dẫn tới làm thay đổi về hình thức của hiện tượng văn hóa bản địa, ví dụ, xảy ra việc Đạo giáo hóa về hình thức các tín ngưỡng dân gian đã có sẵn trong nước, còn nội dung của hiện tượng văn hóa bản địa thì vẫn không thay đổi bao nhiêu.

Phó giáo sư Trần Ngọc Thêm trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt nam” cũng viết:

“Trong khi Nho giáo chưa tìm được chỗ đứng ở Việt nam thì Đạo giáo đã tìm thấy ngay những tín ngưỡng tương đồng sẵn có từ lâu… Vì vậy dễ hiểu là tại sao Đạo giáo, trước hết là Đạo giáo phù thủy, đã thâm nhập nhanh chóng và hòa quyện dễ dàng với tín ngưỡng ma thuật cổ truyền tới mức không còn ranh giới. Do vậy mà tình hình Đạo giáo ở Việt nam rất phức tạp, khiến cho không ít nhà nghiên cứu đã quy hết mọi tín ngưỡng cổ truyền Việt nam cho Đạo giáo, và ngược lại, người Việt nam sính đồng bóng, bùa chú thì lại chẳng hề biết Đạo giáo là gì”.

Như vậy, có thể thấy, Đạo giáo khi du nhập vào Việt nam có sự hòa nhập mạnh mẽ vào các tín ngưỡng dân gian bản địa, nhưng cũng chỉ làm thay đổi hình thức của các tín ngưỡng bản địa này, còn nội dung của tín ngưỡng bản địa thì không thay đổi đáng kể. Vì vậy, một số tín ngưỡng của ta hiện nay nếu nhìn bề ngoài thì có vẻ là sản phẩm của Đạo giáo nhưng kỳ thực đó là tín ngưỡng dân gian của Việt nam, với một vài ảnh hưởng của Đạo giáo. Đạo Mẫu của Việt nam là một ví dụ. Có thể coi Đạo Mẫu là một hình thức Đạo giáo đặc hữu của Việt nam, hoặc đơn giản là một tín ngưỡng dân gian thuần túy của người Việt với một số ảnh hưởng của Đạo giáo. Nói như vậy để thấy đặc điểm hòa nhập của Đạo giáo khi du nhập vào Việt nam.

Về mặt lý luận, Đạo giáo ở Việt nam không trước tác được các kinh sách mang tính triết học như Đạo giáo Trung Quốc. Đạo giáo ở Việt nam thường chỉ lưu hành các sách về biện pháp thực hiện, chứ không mang tính lý luận, chủ yếu là các sách dạy cách lên đồng, phù thủy, bùa chú, gọi hồn, trừ tà, các thuật bói toán, tướng số, chiêm bốc, phong thủy. Trong khi Đạo giáo Trung Quốc thì làm ra được nhiều bộ kinh sách lớn, và có nhiều nhà lý luận lỗi lạc như Quách Phác, Cát Hồng, Trần Đoàn.

Theo Phó giáo sư sử học Nguyễn Duy Hinh thì kinh sách chính thống của Đạo giáo (Đạo tạng kinh) chỉ được truyền vào Việt dưới triều vua Lý Thái Tổ (974 – 128). Còn trước đó, nếu có thì chỉ là các kinh sách của riêng từng đạo phái, mang tính chất đơn lẻ, không thống nhất để có thể sử dụng cho việc thi Tam Giáo. Đó là lý do giải thích vì sao các khoa thi Tam Giáo ở nước ta chỉ có thể được tổ chức bắt đầu từ năm 1195.

Về mặt tổ chức, Đạo giáo ở Việt nam không có tổ chức thống nhất cho cả nước, kiểu như Tăng đoàn của Phật giáo chẳng hạn. Các đạo quán, điện thờ Đạo giáo ít có quan hệ với nhau. Người tới Đạo quán, điện thờ Đạo giáo thường là tự nguyện, không có lý do tôn giáo nào bắt buộc họ phải tới cả, mà chủ yếu họ tới để vãng cảnh, cầu xin thần tiên ban phúc, rồi trở về cuộc sống bình thường.

Việc hình thành và đặc điểm của Đạo giáo ở Việt nam chịu ảnh hưởng khá lớn từ Thiên Sư đạo của Trương Đạo Lăng do đạo này thống soái khu vực Tây Nam Trung Quốc, rất gần với Việt nam. Vì Thiên Sư đạo là Đạo phái phù lục, thiên về sử dụng pháp thuật, bùa chú, cầu đảo, nên rất phù hợp với tín ngưỡng dân gian của đại bộ phần quần chúng bình dân người Việt suốt từ cổ đại, vốn sùng bái quỷ thần. Từ đây cũng thấy rằng, Đạo giáo ở Việt nam phần đông là Đạo giáo phù lục.

Tuy vậy, điều này không có nghĩa là Đạo giáo thần tiên không có mặt ở Việt nam mà trái lại, theo Phó giáo sư sử học Nguyễn Duy Hinh trong cuốn “Văn minh Đại Việt” thì chính Tiên Đạo, tiền thân của Đạo giáo thần tiên, là nhánh Đạo giáo đầu tiên thâm nhập vào nước ta với sự xuất hiện của tiên ông Đổng Phụng mà sự tích về việc ông chữa bệnh cho Thái thú Giao Chỉ khi đó là Sĩ Nhiếp còn được ghi lại trong “Đại Việt sử ký toàn thư”. Chỉ có điều, Đạo giáo thần tiên chủ yếu hướng vào đối tượng là các nhà nho, sỹ phu, giới trí thức, quan lại, quý tộc. Số người thực sự tu hành theo lối Đạo giáo thì không nhiều, và số đạo sỹ được cho là tu thành tiên thì lại càng ít hơn. Sách Hội chân biên ghi lại trường hợp 13 tiên ông và 14 tiên nữ của Việt nam. Còn lại phần lớn các sỹ phu, nhà nho, tầng lớp trí thức, quan lại, đều chỉ dừng lại ở mức chịu ảnh hưởng của tư tưởng Lão Trang, sống theo lối “phong hoa tuyết nguyệt” của Đạo giáo mà thôi.

Giai đoạn cực thịnh của Đạo giáo ở Việt nam là thời kỳ Lý – Trần. Khi đó, Đạo giáo thâm nhập vào cả chốn cung đình, đạo sỹ có chức quan, tham gia vào việc triều chính. Từ đời Lê Sơ (1428 – 1527) tới đời Nguyễn, Đạo giáo cung đình dần dần bị Nho giáo bài xích khiến cho nhiều người tinh thông Đạo giáo phải gia nhập Nho giáo để đi thi làm quan theo đường Nho; tư tưởng Đạo giáo phải ẩn vào trong Phật giáo và Nho giáo để tồn tại. Theo Phó giáo sư Nguyễn Duy Hinh viết trong cuốn “Văn Minh Đại Việt” và “Người Việt nam với Đạo giáo” thì đến đời Nguyễn, triều đình ra sức trấn áp đồng bóng, bói toán, cấm xây dựng đạo quán mới. Tuy nhiên Đạo giáo trong dân gian vẫn được duy trì. Mặc dù một mặt cấm đoán như vậy, nhưng chính bản thân các vua triều Nguyễn cũng ra lệnh xây dựng một số đền, đạo quán mới của Đạo giáo. Tuy nhiên, theo nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần viết trong “Đại cương lịch sử văn hóa Việt nam” thì triều Nguyễn là thời kỳ Đạo giáo, Phật giáo được phục hồi, với nhiều công trình chùa chiền, đền quán được tu bổ hoặc xây dựng mới. Không lâu sau thì triều Nguyễn cũng sụp đổ, và Đạo giáo từ đó cũng tàn lụi. Có thể thấy điểm chung trong nhận định của hai nhà sử học này là: vào thời Nguyễn, có nhiều công trình Đạo giáo được tu bổ hoặc xây dựng mới. Như vậy có nghĩa là triều Nguyễn vẫn có thể được coi là giai đoạn hồi phục cuối cùng của Đạo giáo trước khi tàn lụi. 

Về tình hình Đạo giáo hiện nay ở Việt nam, trong cuốn “Cơ sở văn hóa Việt nam”, Phó giáo sư Trần Ngọc Thêm viết:

“Ở Việt nam, Đạo giáo như một tôn giáo đã tàn lụi từ lâu. Dấu vết hoạt động cuối cùng của nó là sự kiện một nhóm tín đồ xuất bản vào năm 1933 tại Sài Gòn bộ sách mang tên “Đạo giáo” viết theo tinh thần tôn giáo, gồm 3 tập. Đến nay, những hiện tượng như đồng bóng, đội bát nhang, bùa chú… tuy vẫn lưu truyền, nhưng chỉ còn lại là những di sản của tín ngưỡng dân gian truyền thống mà thôi”.

Hiện nay, các địa điểm thờ phụng theo tín ngưỡng Đạo giáo như các đền, điện, đạo quán, hầu hết là do cộng đồng địa phương tự quản lý. Việc duy trì các hoạt động tín ngưỡng tại các địa điểm này hầu như chỉ dựa theo truyền thống tại địa phương mà các lớp người cao tuổi còn nhớ được hoặc nếu may mắn thì dựa theo các tư liệu còn lưu lại được. Chính vì vậy mà có khi tư tưởng mê tín dị đoan, trục lợi cũng nhân dịp đó mà lồng vào các hoạt động tín ngưỡng này.

Quá trình du nhập và hình thành

Trước hết, phải nói rằng tư liệu lịch sử về Đạo giáo ở Việt nam còn lưu lại vô cùng ít ỏi. Điều này khiến cho việc truy tầm dòng chảy của Đạo giáo trong dòng chảy chung của lịch sử Việt nam là cực kỳ khó khăn.

Có lẽ cũng chính vì thế mà thời gian gần đây, có một số ý kiến cho rằng ở Việt nam không có Đạo giáo mà chỉ có saman giáo ([1]); tuy nhiên, với sự hiện diện của nhiều đạo quán trên khắp cả nước, với những sử liệu còn lưu chép lại, dù là ít ỏi, thì cũng có thể khẳng định rằng Đạo giáo có tồn tại ở Việt nam, với những đặc điểm riêng.

Sách Đạo tạng kinh (Bộ kinh tổng hợp của Đạo giáo) viết: “Sau khi vua Hán Linh Đế (168 – 189) băng hà, xã hội Trung Hoa rối loạn, chỉ có đất Giao Châu là tạm yên ổn. Người phương Bắc sang lánh nạn rất đông, phần nhiều là các đạo sỹ luyện phép trường sinh theo cách nhịn ăn”. Như vậy, có thể nói Đạo giáo du nhập vào Việt Nam từ khoảng cuối thế kỷ thứ 2.

Theo Phó giáo sư sử học Nguyễn Duy Hinh viết trong cuốn Văn minh Đại Việt (NXB Văn hóa Thông tin, 2005) thì Tiên đạo, tiền thân của Đạo giáo thần tiên, du nhập vào nước ta đầu tiên dưới thời Thái thú Sĩ Nhiếp (187 – 226). Bằng chứng được ghi trong Đại Việt sử ký toàn thư:

“Năm 226, Sĩ Nhiếp qua đời. Trước vương ốm, đã chết đi 3 ngày, người tiên Đổng Phụng cho một viên thuốc hòa vào nước ngậm rồi đỡ lấy đầu mà lay động, một chốc lát mở mắt, động tay, sắc mặt bình phục dần dần, ngày hôm sau ngồi dậy được, 4 ngày lại nói được, rồi trở lại bình thường. (Phụng tên tự là Xương Dị, người huyện Hầu Quan, sự tích có chép trong Liệt tiên truyện)” ([2]).

Đạo giáo phù lục sau khi hình thành tại Trung Quốc cũng du nhập ngay vào Việt nam, cũng dưới thời Sĩ Nhiếp.

Tuy nhiên, các tư liệu này cũng chỉ chứng tỏ rằng Đạo giáo có hiện diện tại nước ta vào khoảng cuối thế kỷ thứ 2 chứ không cho biết thêm về mức độ phổ biến của Đạo giáo vào các thời kỳ đó. Phải chờ tới thời Đinh – Lê – Lý – Trần, chính sử mới ghi lại một vài thông tin ít ỏi về việc thi Tam giáo, về một vài chức đạo quan, và tên của một vài vị đạo quan.

a.  Đạo giáo Phù thủy

Ngay từ khi đạo Nho chưa có cơ sở xã hội ở nước ta, thì Đạo giáo Phù thủy nhờ sự tương đồng với các ma thuật phù phép địa phương, nên đã bắt đầu phát triển rộng rãi từ đời Tiền Lê (980 – 1009). Thời xa xưa, người Việt ta thường dùng bùa chú, họ tin rằng có thể trị  tà ma, chữa bệnh, sai âm binh, tàng hình v.v. Cổ Sử Trung Hoa có ghi việc Hùng Vương là người nhờ giỏi pháp thuật  (phù thủy) mà thu phục được 15 bộ lạc lập nên nước Văn Lang.

Thời Lý Nhân Tông (1072-1127), có Lý Giác là kẻ học được phép lạ tương truyền có thể biến cỏ cây thành âm binh, cầm đầu cuộc bạo động ở Diễn Châu.

Năm 1379, đời Trần Phế Đế, ở Bắc Giang, Nguyễn Bổ tự xưng có nhiều phép thần thông, nổi lên lấy hiệu là Đường Lang Tử Y, tiếm hiệu xưng vương làm loạn, bị giết.

Đời nhà Hồ, Trần Đức Huy dùng pháp thuật lôi cuốn đông đảo người theo, bị Hồ Quí Ly dẹp năm 1403.

Vào cuối thế kỷ 19, khi quân Pháp bắt đầu xâm chiếm nước ta, có Mạc Đĩnh Phúc (cháu 18 đời nhà Mạc) dùng thuật phép thuật để phát động cuộc khởi nghĩa năm 1895 ở các tỉnh miền biển Bắc bộ, tuyên  truyền mình có phép thần thông làm cho đạn Pháp bắn ra quay trở lại bắn quân Pháp.

Năm 1916, Võ Trứ ở Bình Định và Trần Cao Vân ở Quảng Nam phò vua Duy Tân chống Pháp, nghĩa quân đeo bùa cho đạn Pháp bắn không chết.

Đó là một số giáo phái thuần túy của Việt nam, tuy nhiên, không rõ kinh sách của các giáo phái này là gì, phương pháp tu luyện của họ ra sao. Từ những thông tin còn lưu lại thì có vẻ như đây là các giáo phái phù thủy và động cơ của họ hoặc là chống lại chính quyền hoặc là chống quân xâm lược.

b.  Đạo giáo Thần tiên

Cần phân biệt Tiên đạo và Đạo giáo thần tiên. Có thể hiểu nôm na là: Tiên đạo là tín ngưỡng tôn thờ các vị thần tiên đã “sẵn có”, không có yếu tố tu luyện; còn Đạo giáo thần tiên là tôn giáo – tín ngưỡng tu tiên, tức là dạy người trần tu thành tiên bằng các phương pháp đặc biệt.

Đạo giáo Thần tiên tại Việt Nam chia thành hai phái: phái Nội tu (nội đan) và phái Ngoại dưỡng (ngoại đan).

a)      Phái Nội tu (cũng gọi là Nội đan) là phái phổ biến hơn. Nội tu tức là luyện tập, dùng Tinh và Khí làm dược liệu, vận dụng Thần, trải qua trình tự tu luyện nhất định, làm cho Tinh – Khí – Thần  biến thành nội đan, kết lại ở đan điền (“đan điền” có nghĩa là “ruộng đan”, tức là nơi luyện đan). Nội đan kết tụ ở đan điền này còn gọi Thánh thai, có tác dụng trường sinh bất tử, trở thành thần tiên.

Nói đến phái Nội tu phải kể đến Chử Đồng Tử, người được coi là ông tổ của Đạo giáo ở Việt nam (gọi là Chử Đạo Tổ). Ông là sống vào thời các vua Hùng, tương truyền đã từng lên núi tu luyện, được ban gậy thần và sách ước, sau thành tiên bay lên trời. Nhưng Phó giáo sư sử học Nguyễn Duy Hinh trong cuốn Văn minh Đại Việt chỉ coi Chử Đồng Tử là một nhân vật thuộc Tiên đạo, tức là tiền thân của Đạo giáo thần tiên Việt nam mà thôi. Vì nếu coi ông là nhân vật của Đạo giáo thần tiên thì thời điểm khởi phát của Đạo giáo thần tiên Việt nam phải được xem là sớm hơn nhiều, tức là vài trăm năm trước công nguyên, vì theo Hùng triều ngọc phả thì triều đại Văn Lang cuối cùng của các vua Hùng tồn tại tới năm 258 trước công nguyên thì mới bị Thục Phán thôn tính.

Khi nói đến Đạo giáo thần tiên, phần lớn các sách đều trích dẫn chuyện Từ Thức lấy vợ tiên. Truyện Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ kể chuyện Từ Thức lấy vợ tiên, đại ý như sau:

Trong năm Quang Thái đời nhà Trần (1388-1398), người ở Hóa Châu tên là Từ Thức, vì có phụ ấm được bổ làm Tri huyện Tiên Du. Bên cạnh huyện có một tòa chùa danh tiếng, trong chùa trồng một cây mẫu đơn, đến kỳ hoa nở thì người các nơi đến xem đông rộn rịp, thành một đám hội xem hoa tưng bừng lắm. Tháng 2 Bính Tý, người ta thấy có cô con gái, tuổi độ 15, 16 phấn son điểm phớt, nhan sắc xinh đẹp tuyệt vời, đến hội ấy xem hoa. Cô gái vin một cành hoa, không may cành giòn mà gãy khấc, bị người coi hoa bắt giữ lại, ngày đã sắp tối vẫn không ai đến nhận. Từ Thức cũng có mặt ở đám hội, thấy vậy động lòng thương, nhân cởi tấm áo cừu gấm trắng, đưa vào tăng phòng để chuộc lỗi cho người con gái ấy. Mọi người đều khen quan huyện là một người hiền đức.

Từ Thức vốn không ham chuyện quan trường, nhân vì bị quan trên trách cứ nên xin từ chức để rong chơi giang hồ, vui cảnh bầu rượu túi thơ. Một hôm qua cửa biển Thần Phù, thấy có ngọn núi rất đẹp bèn leo lên thưởng ngoạn. Bỗng chợt vách núi nứt ra, ông bước vào thì vách núi khép lại, đi thêm nữa thì thấy có nhiều lâu đài nguy nga, có hai tiên nữ áo xanh đón ông vào gặp tiên chủ. Hỏi ra thì được biết, đó là núi tiên Phù Lai, vị tiên chủ là Ngụy phu nhân, còn cô gái mà ông cứu trong hội hoa mẫu đơn chính là tiên Giáng Hương, con gái của vị tiên chủ. Nhân vì thế mà xin được kết duyên để trả nghĩa. Ở núi Phù Lai một năm, lòng còn nhớ nhung cõi trần, ông xin được về thăm quê. Khi về tới quê thì đã tám mươi năm trôi qua. Mọi thứ đổi thay quá nhiều. Sực muốn trở lại cõi tiên nhưng xe mây đã biến thành chim loan bay mất, bèn mặc áo cừu, đội nón lá ngắn, vào núi Hoành Sơn, rồi không biết đi đâu mất.

Như vậy, sách không nói rõ là ông có tu luyện để thành thần tiên không mà chỉ cho thấy do ông gặp được người tiên là Giáng Hương nên trở thành tiên.

Đời Trần – Hồ, có người tu tiên ở núi Nưa (Nông Cống, Thanh Hóa), người đương thời gọi là Hoàng Mi tiên sinh, người đã từng đoán chính xác hậu vận của cha con họ Hồ. Tương truyền đến đời Lê – Nguyễn sau này thỉnh thoảng vẫn có người gặp.

Đời Lê có thư sinh Trần Tú Uyên tương truyền cũng đắc đạo thành tiên. Theo thần tích đình An Trạch (nay là Bích Câu đạo quán) thì Tú Uyên  có may mắn kết duyên với tiên nữ Giáng Kiều tại xóm Bích Câu (Hà nội), sau được vợ khuyên nhủ tu theo đạo trường sinh, thành tiên, cưỡi hạc bay lên trời. Tại nền nhà cũ của ông, dân lập quán thờ (gọi là Bích Câu đạo quán), tương truyền rất linh thiêng, từng báo mộng cho vua Lê Thánh Tông đánh thắng quân Chiêm Thành, được vua ban danh hiệu “An Quốc Chân nhân”. (Theo Các thành hoàng và tín ngưỡng Thăng Long – Hà Nội, Nguyễn Vinh Phúc – Nguyễn Duy Hinh, NXB Lao động, 2009)

Theo Trần Nghĩa viết trong bài Ảnh hưởng của Đạo giáo với tiểu thuyết chữ Hán Việt nam đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 4/1999, truyện Tú Uyên được chép trong Bích Câu đạo quán lục và sách Hội chân biên như sau:

“An Quốc Chân nhân họ Trần, tên Uyên, người thôn Thịnh Quang. Sau khi cha mất, nhà nghèo, ông tìm tới gò đất Kim Quy thuộc phường Bích Câu (Hà nội) làm một thư phòng để ở. Sau khi đến chơi chùa Ngọc Hồ, gặp một thiếu nữ áo hồng đi qua rồi bỗng dưng biến mất. Ông biết là thần tiên có ý trêu mình, bèn phất tay áo trở về. Từ đó, những khi học hành rỗi rãi, ông thường ao ước được gặp lại người đẹp thuở xưa. Chợt một hôm người thiếu nữ kia giáng xuống trước sân nhà, hình dáng vẫn y như ngày nọ. Ông vồn vã đón chào. Thiếu nữ nói: “Em là Hà Giáng Kiều, tiên ở Nam Nhạc. Vì chàng có duyên với đạo, đáng truyền cho bí quyết luyện đan, nên em vâng lệnh đến đây để giúp chàng”. Ông vui mừng theo học, được ba năm thì đắc đạo. Bấy giờ có hai con hạc trắng ngậm thư bay tới đón ông cùng vợ và con trai là Trân cưỡi hạc bay lên trời giữa ban ngày…”

Vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) có lần đi chơi Hồ Tây đã xướng họa thơ với một thiếu nữ xinh đẹp rồi đưa lên xe rước về cung. Tương truyền cô gái này là tiên, khi xe về đến cửa Đại Hưng (nay là Cửa Nam) thì bay lên trời mất. Vua thương nhớ cho cất tại đó một ngôi lầu, gọi là lầu Vọng Tiên. Người đời đặt tên cho cô là Bồi Liễn tiên nương (nghĩa là “nàng tiên đi cùng xe vua”). (không liên quan đến việc tu tiên của Đạo giáo).

Vào thế kỷ 17, đời vua Lê Thần Tông (1619 – 1643 và 1649 – 1662), xuất hiện một giáo phái Việt Nam có quy mô lớn gọi là Nội Đạo. Người sáng lập là Trần Toàn, quê Thanh Hóa, nguyên là một quan to triều Lê, không theo nhà Mạc, từ quan về tu theo Đạo Giáo Thần Tiên, giúp dân trừ tà ma quỉ quái trong hai vùng Thanh, Nghệ. Tương truyền Lê Thần Tông bị bệnh mọc lông cọp ([3]), Trần Toàn dùng bùa và thần chú chữa khỏi. Phái giáo Nội Đạo phát triển vào Nghệ An phía nam, và ra Bắc, có đến 10 vạn tín đồ, đến thế kỷ thứ 20  còn tồn tại ở Thanh Hoá, Nghệ An, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nội.

Mặc dù Nội đạo được cho là thuộc Đạo giáo thần tiên, tuy nhiên, chỉ riêng việc Nội Đạo tham gia trận đại chiến Sòng Sơn với Liễu Hạnh Công chúa thì cũng đủ để chứng minh rằng Nội đạo là dòng Đạo giáo phù thủy.

Cũng  vào đời vua Lê Thần Tông (1619 – 1643 và 1649 – 1662) có Phạm Viên quê ở Nghệ An lên núi Hồng Lĩnh hái thuốc tương truyền gặp được tiên học đạo, có tài biết trước hỏa hoạn, biết trước ngày cha mất, từng cho một lão ăn mày cây gậy có phép lạ, tự xin được tiền để kiếm sống.

Đời Nguyễn, có người tên là Thanh Hòa sưu tầm và ghi lại được sự tích của 13 tiên ông và 14 tiên nữ ở Việt nam trong cuốn sách tên là Hội chân biên (xuất bản năm 1847).

Giới sĩ phu ta ngày xưa thường tổ chức “cầu tiên” (hay phụ tiên) ở tư gia hay ở các đền như Ngọc Sơn (Hà Nội), Tản Viên (Sơn Tây), Đào Xá (Hưng Yên)  ở miền Bắc. Ở miền Nam sau này, do các cuộc cầu tiên mà Đạo Cao Đài ở miền Nam phát sinh, thờ cả ba giáo chủ Thích Ca, Lão Tử, Khổng Tử.

b)      Phái Ngoại dưỡng (cũng gọi là phái Ngoại đan) là phái ít phổ biến hơn ở Việt nam. Phái này cho rằng con người có thể thành tiên sống lâu bất tử nhờ uống thuốc trường sinh (kim đan). Theo Phó giáo sư Trần Ngọc Thêm viết trong cuốn Cơ sở văn hóa Việt nam thì sau khi xuất hiện ở Nam Trung Hoa, phái này du nhập vào nước ta ngay, vì dược liệu để chế kim đan là thần sa có nhiều tại các đảo Tràng sa (Vịnh Bắc Bộ), Cù lao Chàm (Quảng Nam) mà ngày xưa các lái buôn mua từ Giao Chỉ đưa về Trung Hoa. Mã Viện ngoài việc dẹp cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, còn có mục đích riêng là đi tìm các mỏ thần sa. Sau trận chiến tại chiến Mê Linh – Cấm Khê khiến Hai Bà Trưng phải tự vẫn tại cửa sông Hát, rồi đàn áp đẫm máu bộ phận còn lại của nghĩa quân ở Cửu Chân (Thanh Hóa), Mã Viện tiếp tục tiến sâu vào tận vùng đất nay là Quảng Nam và đã tìm thấy mỏ thần sa khổng lồ tại Cù Lao Chàm. Mỏ này khai thác đến hết đời Tống mới cạn. Đời Đông Tấn (316-334), Cát Hồng đang làm quan tại triều Trung Hoa, xin đi làm tri huyện ở Câu Lậu (Hải Dương)([4]) để có dịp đi tìm thần sa ở nước ta mà luyện thuốc trường sinh cho mình (nhưng sau không tới Câu Lậu mà ở lại núi La Phù tỉnh Quảng Đông luyện đan và trở thành Cát tiên ông). ­([5])

Thế kỷ 13 (đời Nguyên), nhà sư Thích Đại Sán đi du khảo vùng Đông Dương đã xác nhận rằng xứ Giao Chỉ là nơi có nhiều thần sa, và mỏ thần sa ở Cù Lao Chàm là lớn nhất.

Ảnh hưởng của Đạo giáo tại Việt Nam

a.  Về mặt chính trị

Các đạo sĩ ngày xưa được các vua chúa coi trọng không khác gì các cao tăng. Trong lịch sử nước ta, các vua Đinh, Lê, Lý, Trần đều chọn các tăng sư và đạo sĩ vào triều làm cố vấn: bên cạnh chức tăng quan có cả chức đạo quan. Năm 1195 đời Lý Cao Tông, có mở khoa thi Tam Giáo lần thứ nhất; đời Trần mở hai khoa thi Tam giáo (1227 và 1247).

Năm 971, vua Đinh Tiên Hoàng phong Khuông Việt Đại Sư Ngô Chân Lưu làm Tăng Thống (Phật giáo), phong Đặng Huyền Quang làm Sùng Chân Uy Nghi (Đạo giáo). Ngoài ra, sử còn ghi tên đạo sỹ Trần Tuệ Long và đạo sỹ Trịnh Trí Không ở triều Lý, tuy không ghi chức quan của các vị này nhưng cho thấy họ đều có mặt trong hoạt động của các vua triều Lý.

Pháp Sư Đỗ Pháp Thuận (915-990) khi được vua Lê Đại Hành hỏi về vận nước, ngài khuyên vua nên dùng đường lối “vô vi” của đạo Lão:

Quốc tộ như đằng lạc
Nam thiên lý thái bình.
Vô vi cư điện các,
Xứ xứ tức đao binh.
 
Dịch nghĩa:
Đất nước như dây leo rối rắm,
Nay Trời nam đã hưởng thái bình.
Dùng đường lối vô vi nơi triều đình,
Xứ xứ đều dứt cảnh chiến tranh.
 

Có sự hòa hợp ba tôn giáo như thế là nhờ vua quan, dân chúng ta thời xưa nhận thức Nho, Phật, Lão là phương tiện bảo vệ luân lý làm người, hơn là những giáo thuyết siêu hình mở đường đến sự cuồng tín có thể gieo sự chia rẻ trong dân gian. Các vua ta, mỗi khi trong triều hay ngoài dân gian có phát hiện những hiện tượng mê tín, dị đoan, hay có kẻ lợi dụng tôn giáo để tham những, thì lập tức hạ lệnh ngăn cấm trừng phạt. Lý Thường Kiệt (1019-1105) thải hồi hơn nửa số thuộc hạ của ông về tội lợi dụng mê tín của dân chúng để trục lợi làm tiền. Như thế cũng chính là để bảo vệ luân lý.

Mặt khác, trong khi Nho giáo, bản chất là một công cụ tổ chức an ninh trật tự xã hội rồi trở thành vũ khí của kẻ thống trị, thì Đạo giáo xây dựng trên những tư tưởng phản kháng các nhà cầm quyền, đã được dân chúng, ở Trung Hoa cũng như ở Việt Nam, đã dùng làm vũ khí tinh thần chống lại kẻ thống trị. Ở Trung Quốc thời Tam Quốc (220-280) Trương Giác lập Thái Bình đạo, dùng phương thuật, bùa phép tập hợp dân chúng khởi nghĩa Hoàng Cân (nghĩa quân chít khăn vàng làm dấu hiệu) chống chế độ cai trị đương thời (năm 184). Bị đàn áp, Thái Bình đạo tồn tại một thời gian, rồi một số tín đồ quy phục theo Ngũ đấu mễ đạo để tiếp tục vùng lên chống chính quyền.

Ở Việt Nam, thời Lý Nhân Tông (1072-1127), có Lý Giác là kẻ học được phép lạ tương truyền có thể biến cỏ cây thành âm binh, cầm đầu cuộc bạo động ở Diễn Châu.

Năm 1379, đời Trần Phế Đế, ở Bắc Giang, Nguyễn Bổ tự xưng có nhiều phép thần thông, nổi lên lấy hiệu là Đường Lang Tử Y, tiếm hiệu xưng vương làm loạn, bị giết.

Đời nhà Hồ, Trần Đức Huy dùng pháp thuật lôi cuốn đông đảo người theo, bị Hồ Quí Ly dẹp năm 1403.

Vào cuối thế kỷ 19, khi quân Pháp bắt đầu xâm chiếm nước ta, có Mạc Đĩnh Phúc (cháu 18 đời nhà Mạc) dùng thuật phép thuật để phát động cuộc khởi nghĩa năm 1895 ở các tỉnh miền biển Bắc bộ, tuyên  truyền mình có phép thần thông làm cho đạn Pháp bắn ra quay trở lại bắn quân Pháp.

Năm 1916, Võ Trứ ở Bình Định và Trần Cao Vân ở Quảng Nam phò vua Duy Tân chống Pháp, nghĩa quân đeo bùa cho đạn Pháp bắn không chết.

Phan Phát Sanh quê ở Tân Châu, An Giang (sinh năm 1893) thuở nhỏ lên núi Thất Sơn học bùa phép và kỹ thuật chế tạo trái nổ cỡ nhỏ. Phan Phát Sanh truyền dạy đạo thuật và phương thức quy tập tín đồ theo tổ chức Thiên Địa Hội cho Nguyễn Hữu Trí và Nguyễn Văn Hiệp, là những người đang nuôi mộng đánh Pháp. Tháng 2 năm 1912, Nguyễn Hữu Trí, Nguyễn Văn Hiệp, Trương Phước, Nguyễn Màng, Huỳnh Văn Khanh đến Tân Châu tìm Phan Phát Sanh tôn làm Hoàng đế, lãnh đạo Thiên Địa Hội. Phan Phát Sanh tự xưng là Phan Xích Long Hoàng đế, lại phao tin đồn rằng ông là con vua Hàm Nghi, có nhiều phép lạ làm cho súng Pháp không nổ và lập nhiều hội kín ở Nam bộ lôi cuốn hàng vạn người hoạt động chống Pháp.

b.  Về mặt y dược học và các môn khoa học cổ

Khởi phát từ việc tìm thuốc trường sinh, các vị đạo gia đã từng bước hoàn thiện hiểu biết về các loài thảo mộc, cách bào chế thuốc, và từ đó các kinh nghiệm này được truyền bá vào đời sống, trở nên có giá trị thực sự đối với con người. Các phương pháp luyện tập nội đan của Đạo giáo khi được truyền ra dân gian thì trở thành các môn khí công, dưỡng tâm, dưỡng thân, môn châm cứu, và thực sự đã chứng minh được tính thần diệu của nó. Đơn cử các bài tập khí công như Dịch cân kinh hay Thái cực quyền đến nay vẫn được lưu truyền và luyện tập rộng rãi trong dân chúng. Đó là các sản phẩm của Đạo giáo.

Mặt khác, nguyên lý “con người và vũ trụ là một” của Đạo giáo (như Lão Tử nói trong Đạo đức kinh) đã trở thành cơ sở để hình thành y lý của Đông Y, theo đó, người ta dùng mô hình vũ trụ để giải thích các quan hệ trong cơ thể con người, làm nguyên tắc chẩn trị bệnh (con người là tiểu vũ trụ, các quan hệ sinh khắc áp dụng trong thế giới vật chất cũng được sử dụng để chẩn đoán và trị bệnh trong cơ thể con người).

Có thể kể đến một số ví dụ về ảnh hưởng của Đạo giáo đối với nền y dược học cổ truyền nước ta như việc sử dụng các kỹ thuật phục thực, tịch cốc với các vị thuốc như hoàng tinh, vừng đen và một số vị thuốc khác có thể giúp tăng cường sức khỏe, trường sinh, nhịn ăn mà không thấy đói. Hoặc có thể thấy sự xuất hiện của các kỹ thuật nội đan như đạo dẫn, tọa vong trong các bài tập dưỡng sinh của các danh y nước ta như Hải Thượng Lãn Ông.

Ngoài ra, một mảng ảnh hưởng sâu đậm của Đạo giáo mà không thể không nhắc tới là lĩnh vực phong thủy, tiên tri, chiêm bốc, tướng số, mà hiện nay vẫn đang tồn tại và được gọi bằng cái tên “hiện đại” hơn là “các môn khoa học dự báo”. Đây là các lĩnh vực thu hút được sự quan tâm của rất đông đảo người dân, không chỉ dân thường mà trước hết là tầng lớp quý tộc, cung đình. Ngay cả các học giả lớn của Việt nam như Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng nổi tiếng với môn Thái Ất và những lời sấm truyền trứ danh của ông. Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan cũng là một ví dụ. Hoặc như La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp cũng từng nổi tiếng là một nhà phong thủy với nhiều truyền thuyết ly kỳ về tài tầm long điểm huyệt của ông. Vua Quang Trung từng phải viện tới ông xem đất để đặt Phượng Hoàng Trung Đô. Hoặc như nhà bác học Lê Quý Đôn cũng đã từng trước tác nhiều tác phẩm về chủ đề này (ví dụ cuốn “Thái Ất dị giản lục”, “Dịch kinh phu thuyết”). Đó là những nhân vật nổi tiếng, thông hiểu về các bộ môn này ở mức cao, còn số người chịu ảnh hưởng và thực hành các triết lý đó ở mức thông thường thì rất nhiều.

Mặc dù cũng có ý kiến cho rằng triết lý lý âm dương ngũ hành, kinh Dịch, Thái Ất, và các hệ thống kiến thức cơ bản khác của triết lý Đông phương không phải là sản phẩm khởi nguồn từ Đạo giáo, nhưng cũng không thể phủ nhận một điều rằng chính các các Đạo gia nổi tiếng của Đạo giáo là những người đã góp phần đáng kể vào việc phát triển, hoàn thiện, và truyền bá các kiến thức ấy ra ngoài cuộc sống. Có thể kể đến Trần Đoàn, một trong các ông tổ của Đạo giáo, với việc sáng tạo ra bộ môn Tử vi, một môn khoa học dự đoán cổ còn tồn tại tới ngày nay.

c.  Về mặt tư tưởng văn học

Về nếp sống và văn thơ, mặc dầu không mấy ai thật sự là tín đồ một phái nào của Đạo Giáo, nhưng hầu hết các nhà Nho Việt Nam, qua Đạo Đức Kinh, Nam Hoa Kinh, hay thi văn cổ Trung Hoa, đều chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp những tư tưởng của Lão Tử, Trang Tử.

Trong những nhà Nho đã thoát ra khỏi cuộc đời, đi ở ẩn để tiêu diêu tự tại giữa thiên nhiên, trước hết có Nguyễn Trãi (1380-1442) một công thần giúp Lê Lợi đuổi quân Minh, giành lại độc lập cho nước ta. Sau khi vua Lê Thái Tông mất, bị gian thần gièm pha, ông cáo quan về ẩn tại Côn Sơn (Hải Dương). Ông cũng có nhiều câu thơ ca tụng thú thanh nhàn (một bầu phong nguyệt) tiêu dao tự tại giữa thiên nhiên, đúng với lời dạy bảo trong Đạo thường mà không còn nghĩ đến sự đua tranh:

Một bầu phong nguyệt nhàn tự tại,
Hai chữ công danh biếng vả về. (Quốc Âm Thi Tập bài số 155)
…Chữ nhàn xưa chép lời  truyền bảo,
Khiến chớ cho qua một Đạo thường.  (Quốc Âm Thi Tập bài số 128)
… Ở thế an nhàn chẳng có sự,
Nghìn muôn tấn nhượng, chớ đua tranh! (Quốc Âm Thi Tập bài số 136)

Qua thế kỷ 15-16, Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), đỗ Trạng nguyên năm 1535, thời nhà Mạc, làm quan 8 năm, xin về hưu (1544), được vua Mạc phong tước Trình Tuyền Hầu (ngụ ý khen tài đức như Trình Y  Xuyên, Trình Minh Đạo bên Trung Hoa) nên được gọi là Trạng Trình. Thật ra, ông đã theo phép xuất xử của Nho giáo (Gặp thời có chính nghĩa thì ra giúp đời, không thì đi ở ẩn: nhà Mạc vốn bị coi như là ngụy, tiếm ngôi vua Lê, có lẽ vì thế nên ông rút lui), mà cáo quan về ở ẩn, nhưng tư tưởng của ông lại thấm nhuần thuyết “tính-tự-nhiên” của Trang Tử, như trong  Bạch Vân Am thi tập có câu:

Làm người thìn (giữ gìn) được tính-tự-nhiên,
Dại dột nhìn ra có phận yên  (Bạch vân am thi tập, Bài số 53)

Tiêu diêu hưởng nhàn giữa cảnh hữu tình (thiên nhiên), không tranh đua, không cần ai khen chê:

Ngày ngày tiêu sái  (thong thả) nhàn vô sự,
Tuy chửa là tiên, ấy ắt tiên.  (Bạch vân am thi tập, Bài số 22)
… Rồi nhàn thì nhẫn (đạt đến) tiên vô sự,
Ngẫm ngợi cho nên cảnh hữu tình.  (Bạch vân am thi tập, Bài số 15)
…Nhàn được thú quê dầu bao nả  (bao nhiêu)
Nghĩ xem thế sự biếng đua tranh.   (Bạch vân am thi tập, Bài số 17)
…Dữ lành, miệng thế mặc chê khen. (Bạch vân am thi tập, Bài số 39)

Nhưng quan trọng nhất là Nguyễn Công Trứ (1778-1858), ra làm quan, bận rộn với việc khẩn hoang lập làng nuôi sống cho dân nghèo, cầm quân đánh giặc chống loạn Cao Miên, mà vẫn tìm cách sống theo các thuyết Đạo giáo, như ‘tri túc, tiêu diêu xoay xở để hưởng nhàn’ (ngao du sơn thủy). Ông viết:

Tri túc, tiện túc, đãi túc hà thời túc? tri nhàn tiện nhàn, đãi nhàn, hà thời nhàn?

(biết đủ thì có đủ, còn đợi cho đủ, biết bao giờ mới đủ? biết nhàn thì có nhàn, còn đợi cho nhàn, biết bao giờ mới nhàn?).

Theo thuyết ‘tri túc bất nhục‘ của Lão tử: nghĩa là “biết đủ thì khỏi bị nhục” (Đạo Đức Kinh, chương 44), và theo thuyết Tiêu Diêu hưởng lạc thỏa thích giữa thiên nhiên của Trang Tử.

Được mất dương dương người thái thượng,
Khen chê phới phới ngọn đông phong”
..”Người có biết ta hay thì chớ,
 chẳng biết, ta vẫn là ta.
Linh khâm bảo hợp thái hòa,
Sạch không trần tục ấy là thần tiên,
Ngang tàng lạc ngã tính thiên”
 

(Dù được, dù mất, ông vẫn bình thản như người thượng cổ, thiên hạ khen chê thế nào, ông vẫn là ông, trong tâm hồn có sự hòa đồng với vũ trụ, thoát tục thần tiên, vui thuận theo tính-tự-nhiên trời phú cho)

Phải chăng, Nguyễn Công Trứ là một nhà Nho đã dung hòa được cái hữu vi của Khổng giáo với cái vô của Lão Trang, trong tinh thần Việt hóa cố hữu của dân tộc ta.

Đề tài đời và mộng lẫn lộn nhau, ảnh hưởng của chuyện Trang Chu chiêm bao làm bướm, đã được bao nhiêu văn thi sĩ lặp đi lặp lại, nhưng đặc biệt nhất có Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1888-1939) là dông dài và sâu sắc hơn hết. Văn xuôi, ông có truyện dài ‘Giấc mộng con’ thuật lại một giấc chiêm bao thấy mình là một thanh niên, trốn sang Pháp để học hỏi thêm, làm quen với một thiếu nữ tên Chu Kiều Oanh 17 tuổi, cùng nhau ngao du khắp hoàn cầu, rồi lên đến thiên đình, bàn luận  với các nhân vật Đông Tây. Tỉnh dậy, mới biết mình vừa chiêm bao, muốn viết thư cho Chu Kiểu Oanh, nhưng không biết gửi đi cách thế nào, đang mong được chiêm bao tiếp theo. Về thi ca, hiện nay bài ‘Nhớ mộng’ của ông còn được nhiều người  truyền  tụng:

Giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi,
Tỉnh rồi lại muốn mộng mà chơi.
Nghĩ đời ngán nỗi không bằng mộng,
Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán đời.
Những lúc canh gà ba cốc rượu
Với khi cánh điệp  (bướm) bốn phương trời.
Tìm đâu cho thấy người trong mộng
Mộng cũ mê đường biết hỏi ai ?

d.  Về ứng xử với thời cuộc

Các nhà Nho ngày xưa thường theo chủ trương “Công toại, thân thoái” (Đạo Đức Kinh,  Chương 9). Từ thời dựng nước, vị anh hùng cứu quốc Phù Đổng, sau khi phá giặc thành công, liền phi thần mã rút lui không chịu hưởng công danh. Trong cuộc phò Lê Lợi kháng chiến chống quân Minh, lúc đầu Nguyễn Trãi cùng Trần Nguyên Hãn đến gặp Lê Lợi, Nguyên Hãn xem tướng Lê Lợi, cho đó là một nhân vật chỉ có thể cộng tác lúc khốn cùng, chớ không thể chung sống lúc thành công được, nhưng vì đại nghĩa kháng chiến cho độc lập quốc gia, nên cả hai đều theo phù giúp. Khi toàn thắng quân Minh, Trần Nguyên Hãn xin về vườn, nhưng một năm sau, bị vua buộc tội đồng lõa với phản loạn, ông nhảy xuống sông tự tử để khỏi bị chém đầu. Sau đó, Nguyễn Trãi xin về hưu ở Côn Sơn, nhưng cuối cùng vì vụ Thị Lộ mà cả gia đình bị tru di tam tộc (1442).

e.  Về mặt tâm linh, tôn giáo, tín ngưỡng

Phó giáo sư sử học Nguyễn Duy Hinh cho biết, sau giai đoạn thịnh hành ở thời Lý – Trần, Đạo giáo ở Việt nam bị Nho giáo bài xích và phải ẩn vào trong chính Nho giáo và Phật giáo. Trên một phương diện nào đó, có thể coi đó cũng là ảnh hưởng của Đạo giáo đối với Nho và Phật, mặc dù dưới hình thức khá thụ động.

Học giả Phan Ngọc cũng cho rằng Đạo giáo khi du nhập vào Việt nam chỉ làm thay đổi về mặt hình thức các tín ngưỡng bản địa đã có sẵn, còn nội dung thì không thay đổi bao nhiêu.

Để phân biệt rạch ròi đâu là dấu hiệu của Đạo giáo trong các tín ngưỡng mang tính dân gian thì rất khó. Bởi vì tín ngưỡng dân gian từ xa xưa của người Việt cũng mang rất nhiều yếu tố phù thủy, và cũng rất nhiều yếu tố thần tiên. Vì vậy, điều dễ thấy hơn là sự dung hòa Tam giáo trong tâm linh người Việt. Ví như biểu tượng chim hạc, linh quy xuất hiện rất nhiều trong đình chùa miếu mạo và cả từ đường của tư gia. Hạc hay rùa là các biểu tượng của tiên đạo, trường sinh.

Hoặc như thuật ngữ “buhda” vốn có nghĩa là “phật”, nhưng khi du nhập vào nước ta và được bản địa hóa thành “bụt” thì lại không được dùng để chỉ “phật” mà dùng để chỉ một ông tiên với nhiều phép biến hóa cứu giúp người nghèo khổ. Hình tượng ông bụt, ông tiên, bà tiên, hay cô tiên đã trở nên rất quen thuộc và phổ biến trong các câu chuyện cổ tích dành cho trẻ em và cũng xuất hiện khá phổ biến trong các hình thức văn học dân gian khác, như “Việt điện u linh”, “lĩnh nam chích quái”, “truyền kỳ mạn lục”, “truyền kỳ tân phả” và các tác phẩm tương tự như thế.

Các khái niệm vốn đặc hữu của Đạo giáo như Bồng Sơn, Nhược Thủy, Bồng Lai (nơi tiên ở) cũng xuất hiện khá nhiều trong đời sống của người Việt, đặc biệt là đối với giới sỹ phu, có chữ nghĩa. Tương tự, khái niệm “tiên” cũng vậy. Những thành ngữ kiểu như “được voi đòi tiên” hay “sướng như tiên” hoặc có liên quan tới “tiên” được sử dụng khá thường xuyên trong đời sống. Thậm chí trong nhiều bài văn khấn gia tiên, câu kết thường là “xin tiễn vong linh, lại về tiên giới”.

Đó đều mang bóng dáng của Đạo giáo.

Như vậy, có thể cho rằng Đạo giáo đã thẩm thấu một cách tự nhiên vào trong đời sống tâm linh, và các tôn giáo tín ngưỡng của người Việt, mặc dù nếu nói rằng đó hoàn toàn là ảnh hưởng của Đạo giáo thì cũng là khiên cưỡng nhưng cũng không thể phủ nhận sự hiện diện của Đạo giáo ở đó.

Ngày nay các phái Phù thủy, Thần tiên của Đạo giáo chắc là không còn tồn tại nữa. Các thành phần trẻ và có học nước ta cũng không ai tin tưởng những chủ trương vô vi nhi trị (trị quốc theo lối vô vi, kệ nó tự vận hành theo quy luật tự nhiên), trở về đời sống thái thượng dân số ít, dân trí kém do Lão Tử đề xướng, nhưng rất có thể bị lôi cuốn theo lập trường không phân biệt thiện ác, đúng sai, khiến cho cuộc sống sinh ra bừa bãi, vô trách nhiệm, hoặc lẫn lộn hưởng nhàn với hành lạc sa đọa, hoặc theo gương Trang Tử, phản đối tất cả những luật lệ, thể chế chính trị, học thuyết, tín ngưỡng do người đời bày ra, đến mức có thể bị mất hết niềm tin, sống ngoài lề xã hội, không biết quí trọng giá trị thiêng liêng của  đời sống mà Trời đã phú cho.

Vì vậy, rất cần giúp lớp trẻ tìm hiểu và đánh giá đúng mức những chủ trương, tư tưởng, học thuyết Lão Trang trong Đạo giáo để gạt bỏ những gì lỗi thời và tìm mọi cách Việt hóa những gì có thể giúp cho sự tiến bộ về tư tưởng cũng về khoa học cho dân tộc Việt Nam chúng ta.


([1]) Saman giáo (Chamanism) là một loại hình tôn giáo cho rằng một người nào đó, do bẩm sinh hay sau một thay đổi căn bản về cơ thể (ốm thập tử nhất sinh) hoặc về tâm lí, tinh thần, thì có khả năng giao tiếp với các siêu linh, các vong hồn bằng cách hồn thoát khỏi xác, hoặc thần thánh, ma quỷ nhập vào mình, để cầu xin với siêu linh một điều gì. Biện pháp của Saman giáo là phải tự đưa mình chuyển từ thể trạng bình thường sang thể trạng cuồng loạn, hôn mê bằng tiếng hát, tiếng đàn, hương khói, đặc biệt bằng nhảy múa, điên loạn. Saman giáo thường phải có một điện thần (Panthéon), có người đỡ đầu, có thần bản mệnh tức một tổ sư, có mũ miện, áo xống đặc biệt, có dụng cụ độc đáo…

Ở Việt Nam, phổ biến là hình thức phôi thai của Saman giáo: trò chơi phụ đồng chổi, thả thơ, đoán mộng, giao tiếp với các siêu linh, vong hồn. Các hình thức lên đồng có thể coi là Saman giáo. Yếu tố Saman giáo gia nhập vào Đạo giáo với hiện tượng cầu cơ (cầu tiên, phụ tiên); vào đạo Cao Đài trước là với hiện tượng chiếc bàn ma, sau là cầu cơ. Đạo Mẫu  cũng mang tính Saman giáo. Ở các tộc người miền Đông Bắc (Nùng, Dao, Sán Dìu, Sán Chay …), Saman giáo rất phổ biến và có hệ thống biểu hiện khác nhau ở các tộc người. Chủ trò là các ông thầy Tào, thầy Mo, Then, Pựt… Ở người Mông, Saman giáo phát triển với các chí nềnh (chí ninh) có tổ sư là Xídi. Xídi nhiều khi vâng mệnh trời, nhập vào một chí nềnh đứng ra xưng vua (Sỏ vang) cứu người Mông hết khổ. Ở Tây Bắc, dân tộc Thái và các dân tộc khác cũng có các thầy mo một với tổ sư là phi một chữa bệnh cứu đời. (Theo Bách khoa toàn thư)

([2]) Liệt tiên truyện là truyện của Cát Hồng, ghi lại sự tích các vị thần tiên của Trung Quốc. Hầu Quan là tên huyện thuộc Phúc Châu, nay là thành phố Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc.

([3]) Theo một số sử liệu của Quốc gia và Thiền phả cũng như sự tích còn lưu giữ được ở Đồng Bụt, Đồng Khanh, Sài Sơn (thuộc hai huyện Thạch Thất và Quốc Oai, Hà Tây cũ), Chiêu Thiền tự (Chùa Láng), chùa Lý Triều Quốc Sư, và chùa Hương Tích thì sau khi Đại sư Từ Đạo Hạnh mất đã tái sinh 2 đời làm vua là Lý Thần Tông (1128-1138) triều Lý và Lê Thần Tông (1619-1643) triều Lê. (Theo Thượng Tọa Thích Viên Thành viết trong Chùa Thầy, 2001)

([4]) Có thể tác giả nhầm với núi Câu Lậu tại khu vực Chùa Tây Phương, Hà Tây cũ?

([5]) Đây là ý kiến của Nguyễn Duy Hinh viết trong cuốn Người Việt nam với Đạo giáo. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về việc Cát Hồng có tới Câu Lậu hay không (xem bài Sơ lược về nghiên cứu Đạo giáo ở Việt nam của Trần Anh Đào, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Số 10 năm 2007).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s