Điển tích – Giai thoại

Tự thượng cổ tới giờ, có vị nào được tôn làm thánh thần mà không gắn liền với các điển tích và giai thoại đẹp và huyền bí. Đời này kế tiếp đời kia, có vị thì số lượng điển tích và giai thoại ngày càng nhiều thêm, thậm chí giữa các điển tích và giai thoại còn có điểm khác nhau; có vị thì thông tin tản mát đi nhiều, chẳng còn lại được bao nhiêu. Âu đó cũng là điều bình thường trong lịch sử. Nhưng cũng vì vậy mà cần phải ghi chép lại để tránh bị tản mát đi thêm nữa. Bởi thế, phần này của cuốn sách sẽ tập hợp một số điển tích và giai thoại về các vị được thờ phụng tại đền Thượng hoặc giả có liên quan tới Đền Thượng. Có thể trong chư vị có người cho đây là chuyện hoang đường, huyễn hoặc, nhưng riêng chúng tôi, vì lòng yêu mến các vị ấy mà cho rằng các điển tích và giai thoại này là có thật.

Các điển tích và giai thoại về đức Văn Xương Đế Quân đã được nêu ngay tại Phần giới thiệu về đức Văn Xương Đế Quân nên xin không nhắc lại ở đây.

Đức Quan Thánh Đế

 Cứu Bồ Châu

Quan Vũ khi còn trẻ người cao lớn, cử chỉ đàng hoàng, nghĩa hiệp, thích bênh vực kẻ yếu đuối.

Khi đó, ở thành Bồ Châu có tên thầy bói là Trương Thiết Chủy hay lừa gạt lấy tiền của người nghèo khó. Quan Vũ rất giận, muốn có dịp dạy cho hắn mấy bài học; còn Trương Thiết Chủy vì thế cũng hận Quan Vũ lắm. Một hôm, Trương Thiết Chủy đột nhiên thu thập gia nhân, nói là phải chuyển nhà gấp. Hàng xóm láng giềng hỏi:

–         Ông đang làm ăn phát tài thế, sao bỗng dưng lại phải chuyển đi?

Trương Thiết Chủy đầu tiên không chịu nói, đến khi mọi người hỏi dồn mới đáp:

–         Tai họa sắp đổ lên đầu đến nơi rồi… Bồ Châu sắp cháy!

Hàng xóm liền nói:

–         Ông đã biết vậy thì tìm cách cứu mọi người đi!

Trương Thiết Chủy lắc đầu quầy quậy. Mọi người giận lắm, muốn đập phá đồ đạc nhà hắn. Tới lúc đó, Thiết Chủy mới tiết lộ:

–         Thực ra thì cũng chẳng khó gì. Mọi người hãy kêu thằng con nhà họ Quản trước giờ ngọ ngày mai tới cửa phía nam thành chặn một hảo hán mặt đỏ cưỡi ngựa hồng lại thì không có chuyện gì nữa.

Nói xong hắn lại than thở:

–         Nếu không chặn được thì thật là đại họa!

Hôm sau, trước giờ ngọ, mọi người cùng Quan Vũ đứng ở cầu bắc qua sông phía nam thành. Một lát thì thấy một hảo hán mặt đỏ, cưỡi ngựa hồng đi đến. Mọi người tiến lên chặn lại. Hảo hán kia cứ thẳng tiến lên phía trước, gạt mọi người ngã liểng xiểng. Trong nháy mắt, hảo hán sắp qua cầu vào thành. Thấy vậy, Quan Vũ nhảy lên nắm lấy dây cương, con ngựa hồng sắc lửa lập tức bị ghìm lại, cứ hý lồng lên. Hảo hán mặt đỏ nhảy xuống giơ tay đánh Quan Vũ nhưng chẳng khác nào đánh lên đá. Quan Vũ không hề nhúc nhích. Hồi lâu thấy vẫn không di chuyển, hảo hán bỗng quỳ mọp xuống lạy Quan Vũ:

–         Anh tài giỏi hơn tôi nhiều lắm, anh ngăn được tôi, nhưng anh phải cứu tôi.

Quan Vũ hỏi lại:

–         Tôi làm sao để cứu được anh?

Hảo hán mặt đỏ nói:

–         Tôi là thần lửa, phụng mệnh Ngọc Hoàng thượng đế đến để đốt thành. Nếu quá giờ ngọ ba khắc mà trên trời không thấy thành có ánh lửa thì tôi khó tránh khỏi tội chết. Anh hãy cứu tôi đi.

Mọi người đang không biết xử trí làm sao thì Quan Vũ chợt nảy ra ý, nói với mọi người:

–         Hãy bảo toàn thành châm đèn lên!

Thế là chẳng mấy chốc nhà nhà đều đốt đèn, toàn thành đều thấy lửa đèn cháy sáng.

Hôm đó là ngày mười chín tháng bảy, vừa đúng là ngày sinh của Quan Vũ. Về sau, hàng năm, cứ đến ngày này, trong thành Bồ Châu vào buổi trưa đều đốt đèn. Việc này đã trở thành phong tục, nghe nói là để tưởng nhớ Quan Vũ đã ngăn được thần hỏa, cứu thành Bồ Châu. Cũng có người nói, hảo hán mặt đỏ kia là một tên cướp do Trương Thiết Chủy mướn về để hại Quan Vũ. Ai dè khi đọ sức thấy không địch nổi Quan Vũ nên đã huyên thuyên như vậy rồi lủi mất.

(Theo Tam quốc ngoại truyện)

Quan Công hễ nhờ là giúp ngay

Tương truyền rằng, sau khi Quan Công mất, nhân dân lễ bái thường khấn cầu là giúp ngay. Do vậy, tiếng tăm của Ngài mỗi ngày một lớn, người dâng hương giẫm nát cả ngưỡng cửa miếu Quan Vương. Tượng Chu Thương đứng ngay cạnh Quan Công, nhìn thấy thế thì trong lòng rất giận dỗi, thầm nghĩ: Người khác cầu xin cái gì, tướng quân cho cái đó, có gì là lạ, ai chẳng làm được.

Quan Công thấu hiểu tâm sự của Chu Thương. Một hôm, Quan Công đi vắng, việc trong nhà để Chu Thương cai quản. Chu Thương hoàn toàn đồng ý.

Trong chốc lát, có bốn vị khách dâng hương tới: một người trồng rau, một người đốn củi, một người kéo thuyền, và một người đánh cá. Họ quỳ trước tượng, tranh nhau khấn cầu. Một người nói:

–         Con là dân trồng rau, van xin ngài cho ít mưa! Trời hạn thế này, rau của con sắp chết hết.

Chu Thương đang chuẩn bị nói: “Cho mưa ngay lập tức”, ai dè người đốn củi đã nói xen vào:

–         Xin ngài làm điều lành, nắng thêm vài hôm nữa, nồi cơm nhà con đang chờ củi khô để đổi gạo ạ!

Chu Thương lo toát mồ hôi, không biết làm như thế nào mới được. Lúc này, người kéo thuyền cầu xin nổi trận gió nam, người đánh cá lại van nài cho cơn gió bắc. Gió nam, gió bắc, làm sao thổi cùng một lúc được? Điều này thật khó cho Chu Thương, ngay cả thần tiên trên trời cũng khó làm được. May quá, lúc này Quan Công trở về, hỏi han xong bèn lấy giấy bút viết bốn câu:

Đêm tối đổ mưa, ban ngày nắng

Chiếu cho củi khô, rau mọc xanh

Sớm nổi gió nam, chiều chuyển bắc

Kéo thuyền, bắt cá đều tốt lành.

(Theo Tam quốc ngoại truyện)

*****

Chu Thương

Gần Khương Trại, giáp giới hai huyện Văn Xuyên và Mậu Vấn có cửa quan Nhạn Môn. Thời cổ, ở đây chỉ có một con đường độc đạo, bên trên là núi đá cheo leo, bên dưới là nước sông cuồn cuộn. Bên đường cái có một tảng đá xanh nhẵn bóng, rất to, dựng đứng. Theo truyền thuyết dân tộc Khương, đó chính là tảng đá mà đại lực sỹ Chu Thương vác để bịt Nhạn Môn quan.

Thời Tam Quốc, Gia Cát Lượng sai danh tướng Quan Vũ dẫn đội quân tinh nhuệ đi miền Tây dẹp bọn phản loạn. Quân Thục tướng không cởi giáp, ngựa không ngừng vó, theo dòng Mân Giang đi lên miền Tây. Đội quân này đi đến đâu đánh thắng tới đó, thu được rất nhiều thành trì. Quân phản loạn biết Quan Vũ đã tới trước cửa Nhạn Môn quan, lo sợ cuống quít, một mặt sai trọng binh đi giữ cửa quan, một mặt đi khắp nơi bắt người thu lương, làm cho muôn dân nháo nhác, tiếng oan dậy khắp đường.

Hôm ấy, thủ lĩnh quân phản loạn lại mang theo tùy tùng đi bắt người. Đến dưới tường Tây Môn, thấy một đám dân phu đang hò la. Nhìn kỹ, thấy một chàng trai người to đen, hai tay nắm một con trâu lùn mới mổ, khoảng hơn ba trăm cân, hai tay vung lên, quẳng một cái lên tường thành cao hơn ba trượng. Lính canh và dân phu trên thành ai nấy đều lắc đầu lè lưỡi. Thủ lĩnh bước tới hỏi mới biết người ấy họ Chu tên Thương, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, là người nghèo, sinh sống bằng nghề lái đò, bèn lập tức thu nhận vào quân phòng thủ thành để sai bảo. Lúc này, quân Thục ngày càng tới gần. Thủ lĩnh quân phản loạn liền ra lệnh cho Chu Thương thâu đêm vác tảng đá lớn cách thành không xa tới lấp bịt cửa Nhạn Môn quan để ngăn quân Thục. Chu Thương bụng đang đói, thủ lĩnh quân phản loạn thì lòng như lửa đốt, hạ lệnh đi mau. Chu Thương đành phải vác tảng đá lớn, leo trèo trên con đường nhỏ hẹp, xòe bàn tay không nhìn thấy ngón, quá nửa đêm mới trèo đến bờ phía tây, khó khăn lắm mới tới được cửa Nhạn Môn quan. Chu Thương đặt tảng đá xuống, định nghỉ một lát rồi vác tiếp. Chu Thương ngồi dựa lưng vào tảng đá, tháo ủng ra, giũ sạch đất rồi lại đi vào, ai dè mắt cứ díp lại, hai chân vừa đặt xuống đất đã ngáy khò khò. Đang mơ màng thì nghe tiếng gà gáy bên tai mấy tiếng. Tỉnh lại, Chu Thương thấy trời đã sáng, làm lỡ quân cơ, không dám trở về trong thành, bèn vứt bỏ tảng đá lớn, chạy về bến đò chèo thuyền đi. Song, việc Chu Thương đêm khuya vác đá như thế đã bị thám tử quân Thục phát hiện được, suốt đêm trở về báo cho Quan Vũ.

Quan Vũ hết sức kinh ngạc nói:

–         Đất Tây Phiên có người cự phách như vậy, nhất định là anh hùng!

Bèn có ý định thuyết phục Chu Thương đầu hàng. Quan Vũ cải trang thành dân thường, tới bờ sông, bắt chuyện với Chu Thương. Quan Vũ hỏi:

–         Đá cuội với lông cừu, thứ nào nhẹ hơn?

–         Lông cừu nhẹ

Quan Vũ thấy Chu Thương thật thà bèn nói tiếp:

–         Anh lấy thứ nhẹ, tôi lấy thứ nặng, hãy thử xem ai ném được sang bờ bên kia.

Chu Thương nghe xong, ôm bụng cười lớn. Ai ngờ, Chu Thương cầm chiếc lông cừu nhưng không sao mà ném qua sông được. Trong khi đó, Quan Vũ nhặt đá cuội lên, quẳng nhẹ chẳng tốn sức gì đã sang tới bờ bên kia. Chu Thương sửng sốt, thì ra trên đời này còn có người khỏe hơn mình, liền quỳ xuống, nguyện xin suốt đời đem hết sức mình phục vụ Quan Vũ. Quan Vũ cả mừng, thu nhận Chu Thương, để cho Chu Thương ở cạnh mình làm bộ tướng tâm phúc. Về sau, Chu Thương lập nên nhiều chiến công hiển hách cho quân Thục.

Nơi Chu Thương cởi ủng đổ đất đã thành hai ụ đất to, người dân gọi là “Chu Thương cởi ủng”. Vết ngón tay trên tảng đá lớn bên cạnh, người dân nói là lúc Chu Thương vác đá đã móc tay vào. 

(Theo Tam quốc ngoại truyện)

*****

Đức Thánh Trần

Ngài họ Trần, tên Quốc Tuấn, quê ở làng Tức Mặc, tỉnh Nam Định, con của An Sinh Vương Trần Liễu (anh ruột Trần Thái Tông).

Khi trước, An Sinh Vương phu nhân nằm mơ thấy một ông thần tinh vàng tướng ngọc, tự xưng là Thanh tiên đồng tử, phụng mệnh Ngọc Hoàng ban cho ấn kiếm và đủ tam tài ngũ bảo, xuống xin đầu thai, nhân thế có mang. Đến lúc sinh ra Ngài, có hào quang sáng rực cả nhà và hương thơm ngào ngạt. Cách hôm sau, có vị đạo sỹ đến nói rằng: “Đêm qua tôi xem thiên văn, thấy có vị tướng tinh sa xuống đây, vậy tôi xin đến bái kiến”. An Sinh Vương đưa Ngài ra cho đạo sỹ xem. Người ấy xem xong, nói rằng: “Quý hóa! Quý hóa! Vương tử mai sau tất yên được dân, cứu được đời, làm vẻ vang cho nhà nước”.

Ngài đầy tuổi tôi đã biết nói, tướng mạo khôi ngô, kỳ vỹ, thông minh sớm lắm, lên năm, sáu tuối đã biết làm thơ ngũ ngôn, và hay bày chơi đồ bát trận. Khi gần lớn thì học rộng các sách vở, thông hết lục thao, tam lược, có tài kiêm cả văn lẫn võ. Ngài thường bàn luận thao lược với Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật (con thứ sáu của vua Thái Tông) đêm ngày không biết chán. Hai anh em rất tương đắc với nhau. Có khi hầu vua giảng sách trong tòa Kinh Diên, giảng bàn nghĩa lỹ, ứng đối như nước chảy. Khi nhàn rỗi lại tập bắn, lại thường đem lục thao, tam lược của Thái Công, Tử Phòng diễn làm trận đồ để dạy các tướng. Ngài xử với người bề dưới thì hiền từ, tiết kiệm, khoan dung, đó là tam tài, dùng người thì kén người trí mưu, nhân hậu, dũng lược, trung thực, tin cẩn, đó là ngũ bảo. Cho nên tướng sỹ nhiều người theo Ngài.

Trong cả ba lần chống giặc Nguyên Mông, các vua Trần đều giao cho Ngài quyền Tiết chế (Tổng tư lệnh quân đội). Khi Thoát Hoan sang xâm lấn lần thứ ba có đem theo một tên tỳ tướng là Nguyễn Bá Linh (tức Phạm Nhan) có yêu thuật biến hiện trăm chiều, gây rất nhiều tổn hại cho quan quân. Ngài phải lập trận cửu cung bát quái mới phá được. Nhưng không sao bắt được Bá Linh. Sau Ngài phải sai tỳ tướng là Yết Kiêu dùng chỉ ngũ sắc bện thành chão, thừa cơ nhảy lên thuyền Bá Linh trói lại cắp nách mang về thì Bá Linh mới không biến hóa được. Khi bắt được Bá Linh rồi, chém thế nào nó cũng không chết, Ngài lại phải dùng đến Phi thiên Thần kiếm nó mới chịu. Truyền thuyết lưu rằng, Phi thiên Thần kiếm là do Ngọc Hoàng phái Tây Vương Mẫu hạ giới ban cho Ngài dùng để giúp nước trừ yêu diệt quỷ.

Khi Ngài qua đời, ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (1300), theo lời dặn, thi hài của Ngài được hỏa táng, thu vào bình đồng và chôn trong vườn An Lạc, gần cánh rừng An Sinh, không xây lăng mộ, đất san phẳng, trồng cây như cũ. Vua phong cho Ngài tước Hưng Đạo Đại Vương. Triều đình lập đền thờ Ngài tại Vạn Kiếp, ấp phong của Ngài lúc sinh thời.

Từ khi lập đền thờ Ngài ở Vạn Kiếp, hai xã Vạn An, Dược Sơn ngày đêm đèn hương phụng sự. Ngài thường hiển linh phù hộ nhân dân, trấn áp tà ma quỷ quái, trị bệnh cứu người, rất là linh diệu. Hễ khi có giặc giã, triều đình sai quân đi đánh dẹp, thường đến cầu đảo tại đền. Nếu thấy thanh kiếm thờ trong tráp tự nhiên rung lên, thì khi ấy tất thắng trận.

(Theo Nam Hải dị nhân liệt truyện và Hưng Đạo Vương của Phan Kế Bính)

*****

Phạm Điện Súy Thượng Tướng Quân

Phạm Ngũ Lão là học trò ở làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, tỉnh Hải Dương, có sức khỏe lạ thường, muôn người khôn địch, tướng mạo khôi ngô, đủ cả văn tài võ lược. Nhà vốn chỉ có nghề làm ruộng, đến Ngũ Lão mới theo nghề học nho. Năm 20 tuổi đã có tính khảng khái. Trong làng có một người là Bùi Công Tiến đỗ tiến sỹ, cả làng kéo đến mừng, chỉ có Ngũ Lão không đến.

Thân mẫu bảo rằng:

–         Con làm thế nào cho bằng người ta thì làm. Nay người ta ăn mừng, cả làng mừng rỡ, sao con không đến mừng một chút.

Phạm Ngũ Lão thưa rằng:

–         Thưa mẹ, con chưa làm nên gì để mẹ vui lòng, mà con đi mừng người ta thì con thấy nhục lắm.

Sau khi được Hưng Đạo Vương tiến cử lên vua Thánh Tôn. Vua thấy Ngũ Lão là người có sức khỏe, lại có học thức, nên cho làm quản vệ sỹ. Các vệ sỹ không chịu, xin đấu sức với Ngũ Lão. Ngũ Lão xin vâng, nhưng xin vua về nhà ba tháng để thu xếp việc nhà, rồi xin đấu sức và nhận chức luôn thể. Vua thuận cho về. Ngũ Lão về nhà, ra đồng tìm chỗ gò cao mà tập nhảy, cứ cách mười trượng chạy đến nhảy vót qua gò. Tập luyện thành thục rồi vào kinh đấu sức. Khi đấu quyền với các vệ sỹ thì không ai địch nổi. Rồi Ngũ Lão thách tất cả các vệ sỹ cùng ra đấu. Các vệ sỹ xúm xít xung quanh hàng trăm người. Ngũ Lão tay đấm, chân đá, nhảy nhót như bay, chạm phải ai không chết thì què. Các vệ sỹ không tài nào đánh lại được, bấy giờ mới chịu phục.

Xảy khi Ai Lao đem hơn một vạn voi sang cướp đất Thanh Nghệ, vua sai Ngũ Lão cầm quân đi đánh dẹp. Ngũ Lão sai dân chặt che đực chồng chất dọc theo vệ đường. Khi Ngũ Lão kéo quân vào đánh, giặc thúc voi sấn lên, Ngũ Lão chỉ tay không, gặp đống tre nào thì vớ lấy đống tre ấy đập vào chân voi. Voi bị đau rống lên chạy về, giày xéo cả quân Ai Lao. Bấy giờ Ngũ Lão mới thúc quân đánh tràn sang. Quân Ai Lao tan vỡ, phải trốn về đêm.

Vì có công lao to lớn ấy nên Ngũ Lão được thiên lên làm Điện tiền Thượng tướng quân. Đến khi mất được phong làm Thượng đẳng phúc thần. Người dân làng Phù Ủng lập đền thờ ngay trên nền nhà cũ của ông.

Ngũ Lão nguyên là bộ tướng của Hưng Đạo Vương, cho nên các đền thờ Hưng Đạo Vương cũng phối thờ Ngũ Lão.

Lại có truyền thuyết khác, khi Ngũ Lão còn hàn vi, xin với mẹ cho đi tìm lập công danh, ở trong nước không có cơ hội, mới sang ở chăn voi cho vua Ai Lao. Ngũ Lão cầm một lá cờ đỏ dạy voi, hễ phất lá cờ đỏ thì voi phải quỳ xuống hết. Đến khi nghe tin có giặc Mông Cổ quấy nước Nam mới theo về Hưng Đạo Vương đi đánh giặc. Về sau, người Ai Lao sang cướp vùng Thanh Nghệ, Ngũ Lão đi đánh dẹp, chỉ cần dùng cờ đỏ phất lên thì voi Ai Lao quỳ phục cả xuống đất, vì thế mới phá được quân Ai Lao.

(Theo Nam Hải dị nhân liệt truyện của Phan Kế Bính)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s