b. Khái lược về Nho giáo

Nho giáo, còn gọi là Khổng giáo, là một hệ thống đạo đức, triết lý và tôn giáo do Khổng Tử ([1]) phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị. Nho giáo rất phát triển ở các nước châu Á là Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, và Việt Nam.

Quá trình hình thành và phát triển

Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu (từ năm 1027 trước công nguyên và đến năm 771 trước công nguyên, kéo dài khoảng 257 năm), đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu (từ năm 770 trước công nguyên đến năm 476 trước công nguyên), xã hội loạn lạc, Khổng Tử (sinh năm 551 trước công nguyên) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó. Chính vì thế mà người đời sau coi ông là người sáng lập ra Nho giáo.

Cũng giống như nhiều nhà tư tưởng khác trên thế giới như Thích Ca Mâu Ni, Giê-xu,… người đời sau không thể nắm bắt các tư tưởng của Khổng Tử một cách trực tiếp mà chỉ được biết các tư tưởng của ông bằng các ghi chép do học trò của ông để lại. Thêm vào đó, thời kỳ “đốt sách, chôn Nho” của nhà Tần (hai trăm năm sau khi Khổng Tử qua đời) càng khiến việc tìm hiểu tư tưởng gốc của Khổng Tử thêm khó khăn. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đời sau vẫn cố gắng tìm hiểu và hệ thống các tư tưởng và cuộc đời của ông.

Nho giáo nguyên thủy

Thời Xuân Thu, Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu, và Kinh Nhạc. Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ Kinh. Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận Ngữ. Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học. Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung. Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử. Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay “tư tưởng Khổng – Mạnh”. Từ đây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáoNho gia. Nho gia mang tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo. Đối với Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành.

Tuy nhiên, thời kỳ này là thời kỳ loạn lạc, vô đạo của xã hội Trung Quốc, Nho giáo nguyên thủy, vốn đặt nền tảng ở “nhân trị”, đã không thể áp dụng thành công trên phương diện trị quốc. Trước khi chết, Khổng Tử rất buồn, từng than rằng: Đạo của ta đã đến lúc cùng rồi sao?

Hán Nho

Đến đời Hán, Đại Học và Trung Dung được gộp vào Lễ Ký. Hán Vũ Đế đưa Nho giáo lên hàng quốc giáo và dùng nó làm công cụ thống nhất đất nước về tư tưởng. Và từ đây, Nho giáo trở thành hệ tư tưởng chính thống bảo vệ chế độ phong kiến Trung Hoa trong suốt hai ngàn năm. Nho giáo thời kỳ này được gọi là Hán Nho. Điểm khác biệt so với Nho giáo nguyên thủy là Hán Nho đề cao quyền lực của giai cấp thống trị, Thiên Tử là con trời, ngoài là “nhân trị” nhưng trong là “pháp trị”. Bằng việc kết hợp cả “nhân trị” và “pháp trị”, Hán nho đã thành công lớn trên phương diện trị quốc.

Tống Nho

Đến đồi Tống, các sách Đại Học, Trung Dung lại được tách ra khỏi bộ Lễ Ký và cùng với các sách Luận ngữ và Mạnh Tử tạo nên bộ Tứ Thư. Lúc đó, Tứ Thư và Ngũ Kinh là sách gối đầu giường của các nhà Nho. Nho giáo thời kỳ nay được gọi là Tống nho, với các tên tuổi như Chu Hi (thường gọi là Chu Tử), Trình Hạo, Trình Di. (Ở Việt nam, thế kỷ 16, Nguyễn Bỉnh Khiêm rất giỏi Nho học nên được gọi là “Trạng Trình”). Phương Tây gọi Tống nho là “Tân Khổng giáo”. Điểm khác biệt của Tống nho với Nho giáo trước đó là việc bổ sung các yếu tố “tâm linh” (lấy từ Phật giáo) và các yếu tố “siêu hình” (lấy từ Đạo giáo) phục vụ cho việc đào tạo quan lại và cai trị.

Các sách kinh điển

Các sách kinh điển của Nho giáo đều hình thành từ thời kỳ Nho giáo nguyên thủy. Sách kinh điển gồm hai bộ: Ngũ Kinh và Tứ Thư. Hệ thống kinh điển đó hầu hết viết về xã hội, về những kinh nghiệm lịch sử Trung Hoa, ít viết về tự nhiên. Điều này cho thấy rõ xu hướng biện luận về xã hội, về chính trị, về đạo đức là những tư tưởng cốt lõi của Nho giáo.

Ngũ Kinh

Kinh Thi: sưu tập các bài thơ dân gian có từ trước Khổng Tử, nói nhiều về tình yêu nam nữ. Khổng Tử san định thành 300 thiên nhằm giáo dục mọi người tình cảm trong sáng lành mạnh và cách thức diễn đạt rõ ràng và trong sáng. Một lần, Khổng Tử hỏi con trai “học Kinh Thi chưa?”, người con trả lời “chưa”. Khổng Tử nói “Không học Kinh Thi thì không biết nói năng ra sao” (sách Luận Ngữ).

Kinh Thư: ghi lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng Tử. Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn, chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ.

Kinh Lễ: ghi chép các lễ nghi thời trước. Khổng Tử hiệu đính lại mong dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự. Khổng Tử nói: “Không học Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời” (sách Luận Ngữ).

Kinh Dịch: nói về các tư tưởng triết học của người Trung Hoa cổ đại dựa trên các khái niệm âm dương, bát quái,… Đời Chu, Chu Văn Vương đặt tên và giải thích các quẻ của bát quái gọi là Thoán từ. Chu Công Đán giải thích chi tiết nghĩa của từng hào trong mỗi quẻ gọi là Hào từ. Kinh Dịch thời Chu gọi là Chu Dịch. Khổng Tử giảng giải rộng thêm Thoán từ và Hào từ cho dễ hiểu hơn và gọi là Thoán truyện và Hào truyện.

Kinh Xuân Thu: ghi lại các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của Khổng Tử. Khổng Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi mục đích trị nước nên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời thoại để giáo dục các bậc vua chúa. Ông nói, “Thiên hạ biết đến ta bởi kinh Xuân Thu, thiên hạ trách ta cũng sẽ ở kinh Xuân Thu này“. Đây là cuốn kinh Khổng Tử tâm đắc nhất.

Kinh Nhạc: do Khổng tử hiệu đính nhưng về sau bị thất lạc, chỉ còn lại một ít làm thành một thiên trong Kinh Lễ gọi là Nhạc ký. Như vậy lục kinh chỉ còn lại ngũ kinh.

Tứ Thư

Luận ngữ: nguyên nghĩa là “bàn về lời nói”. Là sách sưu tập ghi chép lại những lời dạy của Khổng Tử và những lời nói của người đương thời. Sách Luận Ngữ gồm 20 chương, mỗi chương đều lấy chữ đầu mà đặt tên, và các chương không có liên hệ với nhau.

Đọc sách này, người ta hiểu được phẩm chất tư cách và tính tình của Khổng Tử, nhất là về giáo dục, ông tỏ ra là người thấu hiểu tâm lý của từng học trò, khéo đem lời giảng dạy thích hợp với từng trình độ, từng hoàn cảnh của mỗi người. Như có khi cùng một câu hỏi mà ông trả lời cho mỗi người một cách.

Trình Di ([2]) nói:

Có người đọc xong Luận Ngữ mà không thấy gì cả, có người đọc xong lại thấy thích thú một vài câu, có người đọc xong thì rất thích thú đến độ múa tay múa chân mà không hay biết.

Bởi vậy, khi đọc Luận Ngữ, phải đọc chậm rãi, suy nghĩ tường tận, càng suy nghĩ càng phát hiện được nhiều điều hay.

Trình Di lại nói:

Ai đọc xong Luận Ngữ mà vẫn còn những tính nết như trước khi chưa đọc thì người ấy chưa hiểu được sách Luận Ngữ vậy.

Tóm lại sách Luận Ngữ dạy đạo quân tử một cách thực tiễn, miêu tả tính tình đức độ của Khổng Tử để làm mẫu mực cho người đời sau noi theo

Đại học: dạy phép làm người để trở thành bậc quân tử. Sách này do Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, soạn ra. Trên đại quan, sách Đại học gồm 2 phần:

Phần đầu gồm một chương gọi là Kinh, chép lại các lời nói của Khổng Tử.

Phần sau là giảng giải của Tăng Tử, do học trò của Tăng Tử chép lại, gọi là Truyện, gồm 10 chương.

Đại học đưa ra ba cương lĩnh (gọi là tam cương lĩnh), bao gồm: Minh minh đức (làm sáng cái đức sáng), Tân dân (làm mới chúng dân, khiến cho dân từ bỏ điều xấu mà làm điều tốt. Có khi viết là thân dân, nghĩa là gần gũi với dân), và Chỉ ư chí thiện (đạt đến đức hoàn thiện nhất).

Để thực hiện ba cương lĩnh này, cần tiến hành 8 bước (gọi là bát mục), bao gồm: cách vật (nghiên cứu thấu đáo sự vật), trí tri (hiểu biết sâu sắc, có kiến thức rõ rệt), thành ý (có ý nghĩ thành thật với chính mình), chính tâm (giữ cho tâm của mình được trung chính, ngay thẳng), tu thân (tu sửa thân mình), tề gia (chỉnh đốn tốn việc nhà), trị quốc (khiến cho nước được an trị), bình thiên hạ (khiến cho thiên hạ được thái bình).

Trong tám bước đó, bốn bước đầu là nói về phương pháp tu thân, ba bước sau là nói về mục đích tu thân. Tu thân là gốc.

Trung Dung: dạy người ta cách sống dung hòa, không thiên lệch. Sách này do người cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, học trò của Tăng Tử, còn gọi là Tử Tư soạn ra. Trung là ý muốn nói cái Tâm không lệch bên này hay bên kia, Dung là dung dưỡng, giữ mãi ở mức như vậy. Trung dung nghĩa là không thái quá, cũng không bất cập. Khổng Tử đã từng nêu ra: “Nói không được quá lời, làm không được vượt quá nguyên tắc. Không chiếm hết công lao, không đùn đẩy sai lầm. Không nên thiên, không nên lệch về bên nào. Không được thái quá hay bất cập”. Khổng Tử cũng chủ trương:

Về thái độ với người: cầu cạnh, nịnh bợ là thái quá; coi thường là bất cập; cùng yêu thương nhau là hợp với trung dung.

Về xã giao: ngạo mạn là thái quá; tự ty, sợ sệt là bất cập; thành thực là hợp với trung dung.

Về xử sự: thô bạo là thái quá; nhu nhược là bất cập; dũng cảm là hợp với trung dung.

Về sử dụng đồng tiền: xa hoa, lãng phí là thái quá; hà tiện là bất cập; khảng khái là hợp với trung dung.

Như vậy, trung dung là không thiên lệch, nhưng cũng không phải là “dĩ hòa vi quý” một cách tiêu cực, thụ động.

Sách gồm hai phần:

Phần thứ nhất: gồm những giải thích của Khổng Tử về trung dung và con  đường, biện pháp đạt đến trung dung.

Phần thứ hai: gồm những ý kiến mà Tử Tư đã kế thừa và phát triển tư tưởng trung dung của Khổng Tử, trong đó nội dung quan trọng nhất là chí thành.

Mạnh Tử: Sách Mạnh Tử là bộ sách làm ra bởi Mạnh Tử và các môn đệ của ông như: Nhạc Chính Khắc, Công Tôn Sửu, Vạn Chương v.v. ghi chép lại những điều đối đáp của Mạnh Tử với các vua chư hầu, giữa Mạnh Tử và các học trò cùng với những lời phê bình của Mạnh Tử về các học thuyết khác như: học thuyết của Mặc Tử, Dương Chu. Mạnh Tử khi còn niên thiếu là môn sinh của Tử Tư (tức Khổng Cấp, cháu nội của Khổng Tử).

Sách Mạnh Tử gồm 14 chương, có thể chia làm 2 phần: Tâm họcChính trị học.

Tâm học: Mạnh Tử cho rằng mỗi người đều có tính thiện do Trời phú cho. Câu nói: “nhân tri sơ, tính bản thiện” chính là của Mạnh Tử. Sự giáo dục phải lấy tính thiện đó làm cơ bản, giữ cho nó không mờ tối, trau dồi nó để phát triển thành người lương thiện. Tâm là cái thần minh của Trời ban cho người. Như vậy, tâm của ta với tâm của Trời đều cùng một thể. Học là để giữ cái Tâm, nuôi cái Tính, biết rõ lẽ Trời mà theo chính mệnh. Nhân và nghĩa vốn có sẵn trong lương tâm của người. Chỉ vì ta đắm đuối vào vòng vật dục nên lương tâm bị mờ tối, thành ra bỏ mất nhân nghĩa. Mạnh Tử đề cập đến khí Hạo nhiên, cho rằng nó là cái tinh thần của người đã hợp nhất với Trời. Phần Tâm học của Mạnh Tử rất sâu xa, khiến học giả dù ở địa vị hay cảnh ngộ nào cũng giữ được phẩm giá tôn quí.

Chính trị học: Mạnh Tử chủ trương: Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh. Đây là một tư tưởng rất mới và rất táo bạo trong thời quân chủ chuyên chế đang thịnh hành. Mạnh Tử nhìn nhận chế độ quân chủ, nhưng vua không có quyền lấy dân làm của riêng cho mình. Phải duy dân và vì dân. Muốn vậy, phải có luật pháp công bằng, dẫu vua quan cũng không được vượt ra ngoài pháp luật đó. Người trị dân, trị nước phải chăm lo việc dân việc nước, làm cho đời sống của dân được sung túc, phải lo giáo dục dân để hiểu rõ luật pháp mà tuân theo, lấy nhân nghĩa làm cơ bản để thi hành. Chủ trương về chính trị của Mạnh Tử thật vô cùng mới mẻ và táo bạo, nhưng rất hợp lý, làm cho những người chủ trương quân chủ thời đó không thể nào bắt bẻ được. Có thể đây là lý thuyết khởi đầu để hình thành chế độ quân chủ lập hiến sau này.

Tóm lại, bộ sách Mạnh Tử rất có giá trị với Nho giáo. Phần Tâm học trong sách là đỉnh cao nhất trong học thuyết Nho giáo.

Trình Di nói:

Kẻ đi học nên lấy hai quyển sách: Luận Ngữ và Mạnh Tử làm cốt. Đã học được hai bộ sách này rồi thì không cần học Ngũ Kinh cũng rõ thông được cái đạo của Thánh hiền.

Tu thân

Khổng Tử đặt ra một loạt Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức… để làm chuẩn mực cho mọi sinh hoạt chính trị và an sinh xã hội.

Tam Cương và Ngũ Thường là lẽ đạo đức mà nam giới phải theo. Tam Tòng và Tứ Đức là lẽ đạo đức mà nữ giới phải theo. Khổng Tử cho rằng người trong xã hội giữ được Tam Cương, Ngũ Thường, Tam Tòng, Tứ Đức thì xã hội được an bình.

Tam Cương: Tam là ba;Cương là giềng mối; Tam Cương là ba mối quan hệ: quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu thê (vợ chồng).

Quân thần: Trong quan hệ vua tôi, vua thưởng phạt công minh, tôi trung thành một dạ.

Cha con: Cha hiền con hiếu. Cha có nghĩa vụ nuôi dạy con cái,con phải hiếu đễ và nuôi dưỡng cha khi cha về già

Vợ chồng: Chồng phải yêu thương và đối xử công bằng với vợ; vợ phải chung thủy tuyệt đối với chồng

Ngũ Thường: Ngũ là năm; Thường là hằng có; Ngũ Thường là năm điều phải hằng có trong khi ở đời, gồm: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.

Nhân: Lòng yêu thương đối với muôn loài vạn vật.

Nghĩa: Cư xử với mọi người công bình theo lẽ phải.

Lễ: Sự tôn trọng, hòa nhã trong khi cư xử với mọi người.

Trí: Sự thông biết lý lẽ, phân biệt thiện ác, đúng sai.

Tín: Giữ đúng lời, đáng tin cậy.

Tam Tòng: Tam là ba; Tòng là theo. Tam tòng là ba điều người phụ nữ phải theo, gồm: “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử

Tại gia tòng phụ: nghĩa là, người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha,

Xuất giá tòng phu: lúc lấy chồng phải theo chồng,

Phu tử tòng tử: nếu chồng qua đời thì phải theo con

Tứ Đức: Tứ là bốn; Đức là tính tốt. Tứ Đức là bốn tính nết tốt người phụ nữ phải có, là: Công – Dung – Ngôn – Hạnh.

Công: khéo léo trong việc làm.

Dung: hòa nhã trong sắc diện.

Ngôn: mềm mại trong lời nói.

Hạnh: nhu mì trong tính nết.

Người quân tử phải đạt ba điều trong quá trình tu thân:

Đạt Đạo. Đạo có nghĩa là “con đường”, hay “phương cách” ứng xử mà người quân tử phải thực hiện trong cuộc sống. “Đạt đạo trong thiên hạ có năm điều: đạo vua tôi, đạo cha con, đạo vợ chồng, đạo anh em, đạo bạn bè” (sách Trung Dung), tương đương với “quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu“. Đó chính là Ngũ thường, hay Ngũ luân. Trong xã hội cách cư xử tốt nhất là “trung dung”. Tuy nhiên, đến Hán nho thì ngũ luân được tập trung lại chỉ còn ba mối quan hệ quan trọng nhất được gọi là Tam thường hay còn gọi là Tam tòng.

Đạt Đức. Quân tử phải đạt được ba đức: “nhân – trí – dũng“. Khổng Tử nói: “Đức của người quân tử có ba mà ta chưa làm được. Người nhân không lo buồn, người trí không nghi ngại, người dũng không sợ hãi” (sách Luận ngữ). Về sau, Mạnh Tử thay “dũng” bằng “lễ, nghĩa” nên ba đức trở thành bốn đức: “nhân, nghĩa, lễ, trí”. Hán Nho thêm một đức là “tín” nên có tất cả năm đức là: “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín”. Năm đức này còn gọi là ngũ thường.

Biết Thi, Thư, Lễ, Nhạc. Ngoài các tiêu chuẩn về “đạo” và “đức”, người quân tử còn phải biết “Thi, Thư, Lễ, Nhạc“. Tức là người quân tử còn phải có một vốn văn hóa toàn diện.

Hành đạo

Sau khi tu thân, người quân tử phải hành đạo, tức là phải làm quan, làm chính trị. Nội dung của công việc này được công thức hóa thành “tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Tức là phải hoàn thành những việc nhỏ – gia đình, cho đến lớn – trị quốc, và đạt đến mức cuối cùng là bình thiên hạ (thống nhất thiên hạ). Kim chỉ nam cho mọi hành động của người quân tử trong việc cai trị là hai phương châm:

Nhân trị. Nhân là tình người, nhân trị là cai trị bằng tình người, là yêu người và coi người như bản thân mình. Khi Trọng Cung hỏi thế nào là nhân thì Khổng Tử nói: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân – Điều gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác” (sách Luận ngữ). “Nhân” được coi là điều cao nhất của luân lý, đạo đức, Khổng Tử nói: “Người không có nhân thì lễ mà làm gì? Người không có nhân thì nhạc mà làm gì?” (sách Luận ngữ).

Chính danh. Chính danh là mỗi sự vật phải được gọi đúng tên của nó, mỗi người phải làm đúng chức phận của mình. “Danh không chính thì lời không thuận, lời không thuận tất việc không thành” (sách Luận ngữ). Khổng tử nói với vua Tề Cảnh Công: “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử – Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con” (sách Luận ngữ).

Đó chính là những điều quan trọng nhất trong các kinh sách của Nho giáo, chúng được tóm gọi lại trong chín chữ: tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.

Quân tử ban đầu có nghĩa là người cai trị, người có đạo đức và biết thi, thư, lễ, nhạc. Tuy nhiên, sau này từ đó còn có thể chỉ những người có đạo đức mà không cần phải có quyền. Ngược lại, những người có quyền mà không có đạo đức thì chỉ được coi là tiểu nhân (như dân thường).

Học thuật

Theo sử gia Trần Trọng Kim viết trong cuốn Nho Giáo thì xét về sự biến thiên của về học thuật của nho giáo từ đời Hán trở đi, ta có thể chia nho giáo thành hai lối học: một là lối học nghĩa lý, hai là lối học từ chương.

Lối học nghĩa lý

Sau đời Khổng Tử, nho giáo chia thành hai phái lớn: phái Mạnh Tử và phái Tuân Tử. Hai phái ấy đều xưng là theo cái học của Khổng Tử, song mỗi phái chủ trương một tôn chỉ khác nhau. Từ cuối đời Chiến Quốc đến hết đời Tần sang đời Hán, nho giáo bị một thời đại trung suy; rồi từ đời vua Hán Vũ Đế trở đi thì ngày càng thịnh. Song cái học thuật trong thời đại từ Hán đến Đường chỉ chú trọng đến sự tìm nghĩa lý trong các kinh truyện, thành ra một lối học gọi là huấn hỗ học. Kế đến đời Tống, các nho giả bỏ lối học huấn hỗ mà tìm lấy những vi ngôn đại nghĩa của thánh hiền, lập ra phái lý học, đem vào cái tư tưởng lên tới cõi siêu vật và trở thành triết học rất cao minh.

Phái lý học của Tống nho có ba học thuyết: một là tượng số học, hai là đạo học, ba là tâm học. Tượng số học do Thiệu Khang Tiết khởi ra, nhưng về sau không thịnh hành; về đạo học và tâm học thì từ đời Nam Tống đến đời Minh đều cùng nhau đối lập. Đạo học lấy Trình Chu làm tiêu biểu, trong khi tâm học lại lấy Lục Vương làm tiêu biểu.

Nho giáo đến đời Thanh lại chia ra làm mấy phái, như Hán học, Tống học, và cuối cùng là Tân học. Hán học phái lấy sự khảo cứu các kinh truyện làm tôn chỉ; Tống học phái lấy việc chính trị theo nghĩa trong sáu kinh làm tôn chỉ. Các học phái ấy đều muốn sửa đổi cái lưu tệ để khiến cho sự học được thích hợp với sự ứng dụng ở đời.

Lối học từ chương

Ngoài những học phái chuyên trị về nghĩa lý, còn có lối học từ chương, tức là chỉ chú trọng về mặt khoa cử, để đem học giả vào con đường danh lợi. Cái học khoa cử khởi lên từ đời Hán rồi đến đời Đường mới trở nên cực thịnh. Nho giáo nhờ lối học ấy mà lan ra khắp thiên hạ, nhưng cũng vì cái học ấy mà thành ra hư văn, làm mất cái chân của sự học thánh hiền. Hoàng Lê Châu đời nhà Thanh sơ nói rằng: “Cử nghiệp thịnh nhi thánh học vong”, thật đúng với lối học từ chương khoa cử vậy.

Riêng với Việt nam ta, cũng phải thẳng thắn mà thừa nhận rằng lối học của các nhà nho ngày xưa phần nhiều là nặng về mục đích khoa cử, tiến thân. Điều này có cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực. Mặt tích cực là, do có sự dùi mài kinh sử đó mà các vương triều phong kiến đã thu hút và sử dụng được một đội ngũ nhà nho có đức độ, uyên bác, hiểu sâu biết rộng vào công việc chính trị của đất nước. Nhưng mặt tiêu cực là lối học này cũng làm thui chột khả năng sáng tạo, tính cá nhân của mỗi con người, làm cho người ta phụ thuộc quá nhiều vào kinh điển. Lối học từ chương và tâm lý cố đạt cho được chút bằng cấp để tiến thân vẫn còn tồn tại cho tới tận ngày nay, dường như chẳng bớt đi được chút nào vậy.

Nho giáo với giáo dục ngày nay

Việc giáo dục của Nho giáo lấy đức dục làm gốc, lấy trí dục làm ngọn. Cái gốc có bền chặt thì cái ngọn mới tươi tốt. Có đức dục thì nghĩa lý mới thấm vào lòng người ta, làm cho tự mình bỏ được cái bụng gian tà. Người có học hạnh thường phải bó mình trong phạm vi danh giáo, thành thử cái tà tâm mà có nổi lên thì cũng không trưởng thành lên được. Ấy thật là công lao của Nho giáo, cho dù người ta không hoàn toàn thực hành được cái đạo của thánh hiền, thì cũng gây dựng được cái phong khí rất hay ở trong xã hội vậy.

Có người nói rằng cái quan niệm ấy chỉ thích hợp với trình độ đời xưa, vì cuộc nhân sinh đời xưa giản dị và chất phác; đến nay thời cuộc đã biến đổi đi, nhân trí đã mở mang, việc chính trị và giáo dục đã thay đổi thì cái học của Nho giáo còn bổ ích gì cho xã hội nữa. Tuy nhiên, nói như thế là người xét việc chưa tường hết các ý nghĩa. Thời cuộc có thay đổi, cuộc nhân sinh có biến thiên, nhưng một khi còn có nhân quần xã hội thì tất còn cần phải có sự tổ chức xã hội cho hợp đạo lý. Nếu trong xã hội mới ngày nay mà Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con thì lại chẳng tốt hơn hay sao. Đã đành rằng thời nay khoa học mở mang, sinh hoạt của người ta cũng không còn giản dị đơn sơ như trước nữa, sự giáo dục ngày nay tất không thể không chú trọng tới trí dục, nhưng thử xem có thể bỏ qua được đức dục không. Người có tài, có trí, mà không có tâm, không có đức, không có khí tiết thì dù ở thời nào cũng chỉ là phường ích kỷ hại nhân mà thôi. Giáo dục mà chỉ chú trọng đến trí dục thì không thể khiến cho người ta biết rõ cái đạo làm người được.

Nói tóm lại, thời nay, người ta một mặt cần phải theo đuổi trí dục, học lấy cho đủ các môn khoa học, nhưng vẫn cần phải lấy Nho giáo làm cái nền đức dục, lấy cái nghĩa lý lưu truyền từ ngàn đời mà tạo cho mình cái khí tiết, phẩm giá tôn quý để hành xử trong cuộc sống. Nhưng mặt khác, cũng cần gạt bỏ dần lối học từ chương như các nhà nho xưa, mở ra nhiều đường lập thân hơn cho giới trẻ hơn, chứ không phải chỉ duy một con đường thi cử.


([1]) Về thân thế Khổng Tử, xin tham khảo tại phần Sơ lược tác giả và nhân vật ở cuối sách.

([2]) Xem phần Sơ lược tiểu sử tác giả và nhân vật ở cuối sách.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s