c. Khái lược về Nhọc học và khoa cử Việt nam

Mười thế kỷ đầu công nguyên, Nho học Việt Nam chưa thịnh, chưa hình thành tầng lớp Nho sĩ nắm vai trò quan trọng trong xã hội. Thành phần trí thức ưu tú bấy giờ là những nhà tu, đặc biệt là các cao tăng. Thông qua việc học chữ Nho để đọc kinh Phật, các sư tiếp thu luôn Nho học. Thế nên, khi đất nước vừa độc lập, kể từ Ngô (939-965), Đinh (968-979), Lê (980-1009), trí thức tài đức ra giúp triều đình là các đạo sĩ và thiền sư. Một số thiền sư có công dạy các tục gia đệ tử trở thành nhân tài giúp nước, như sư Khánh Văn và sư Vạn Hạnh lần lượt là thầy dạy Lý Công Uẩn; sư Trí ở núi Cao Dã là thầy của Thái úy Tô Hiến Thành, Thái bảo Ngô Hòa Nghĩa…

Nho học Việt Nam bắt đầu phát triển từ đời Lý (thế kỷ 11), sang đến đời Nguyễn thì suy. Nho học mở đường xuất thân cho kẻ sĩ thông qua khoa cử; nhờ đó thúc đẩy văn học phát triển, và nâng cao văn hóa. Không ít tiên Nho Việt Nam là tác gia, đi sâu vào triết Nho. Nhưng chiến tranh liên miên, sách vở bị cướp, đốt mất quá nhiều, tư tưởng học thuật của tiên Nho Việt Nam hầu như không còn lưu lại gì cho đời sau nghiên cứu. Nên nói đến Nho giáo Việt Nam, cái nổi bật hình như không phải là tư tưởng triết học, mà lại là văn chương, khoa cử, và vai trò chính trị của sĩ phu trong lịch sử.

Dưới đây là tóm lược các bước phát triển của nho học và chế độ khoa cử nước ta qua các triều đại phong kiến, kể từ thời Lý.

Vương triều Lý (1010 – 1225)

Đời Lý Thái Tổ (1010-1028) mới chỉ chăm lo được việc học trong các chùa (vì Phật giáo là quốc đạo) và chưa tổ chức thi để tuyển chọn nhân tài.

Đến thời Lý Thánh Tông (1054-1072), việc học đã được mở rộng ra ngoài dân gian và Nho học đã được đưa lên hàng quan trọng. Năm 1070, nhà Vua cho mở trường lập Văn Miếu tại kinh đô Thăng Long để thờ Khổng Tử và 72 vị tiên hiền. Ở các địa phương đều có Văn Chỉ ([1]).

Đến thời Lý Nhân Tông (1072-1128) đã quan tâm mở mang việc học hành, thi cử để chọn nhân tài ra giúp nước.

Năm 1075, thời Lý Nhân Tông mở khoa thi Nho học đầu tiên ở nước ta, gọi là khoa Tam Trường, dành cho những người học rộng, thông hiểu kinh sử (còn gọi là khoa Minh Kinh). Người đỗ đầu khoa này là Lê Văn Thịnh, trở thành bậc khai khoa của các nhà khoa bảng nước ta. Sau đó, triểu đình còn cho mở 5 khoa thi nữa vào các năm 1086, 1152, 1165, 1185, và 1193.

Năm 1076, Vua Lý Nhân Tông cho mở trường Quốc Tử Giám ở kinh đô Thăng Long cho con em các tầng lớp quý tộc, quan lại vào học. Có thể coi đây là trường đại học đầu tiên của nước ta.

Năm 1086, lập Hàn Lâm Viện, tuyển Mạc Hiển Tích làm Hàn Lâm Học sĩ.

Năm 1165, thời Vua Lý Anh Tông (1138-1175), nhà Vua cho mở khoa thi Thái học sinh.

Năm 1195, thời Vua Lý Cao Tông (1176-1210), mở khoa thi Tam giáo để tuyển người tinh thông đạo Nho, Phật, Lão. Người đỗ khoa thi này gọi là Tam giáo xuất thân.

Danh nho triều Lý có Lý Đạo Thành (Quan Thái Sư, dòng dõi nhà Lý, quê làng Cổ Pháp, Bắc Ninh), Trương Bá Ngọc, Tô Hiến Thành (Quan Thái Úy, quê làng Hạ Mỗ, Hà Tây)…

Vương triều Lý được coi là triều đại đặt nền móng cho việc học hành, thi cử ở nước ta.

Vương triều Trần (1225-1400)

Vương triều Trần đã quan tâm đặc biệt đến việc học tập và thi cử.

Năm 1253 thời Trần Thái Tông (1225-1258), nhà Vua cho lập Quốc học Viện tại kinh đô Thăng Long cho con em quý tộc, quan lại, và sau mở rộng cho nho sỹ vào nghe giảng Tứ thư, Ngũ kinh. Năm 1246 (hoặc 1247), Vua Trần Thái Tông cho mở khoa thi Thái học sinh, lấy đậu theo Tam giáp (Nhất giáp, Nhị giáp, Tam giáp). Khoa ấy, Nguyễn Hiền (12 tuổi) đỗ Trạng nguyên, Đặng Ma La (14 tuổi) đỗ Thám hoa, Lê Văn Hưu (17 tuổi) đỗ bảng nhãn. Sau này, Lê Văn Hưu là sử gia Việt Nam đầu tiên, tác giả bộ quốc sử đầu tiên của nước ta là cuốn Đại Việt sử ký.

Tác giả Trần Hồng Đức, trong cuốn Các vị Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt nam thì cho rằng, năm 1247, nhà Vua mới cho đặt lại thứ bậc trong tam giáp, theo đó, bậc Nhất giáp có Tam Khôi (gồm Trạng Nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa).

Để khuyến khích việc học ở những vùng xa xôi hẻo lánh, năm 1256 và 1266, nhà Vua cho mở khoa thi lấy Kinh Trạng Nguyên (dành cho người ở khu vực miền Bắc bây giờ) và lấy Trại Trạng Nguyên (dành cho người ở khu vực Thanh Hóa, Nghệ An – vì các khu này khi đó gọi là Trại).

Năm 1261, thời Trần Thánh Tông (1258-1278), nhà Vua cho mở khoa thi Thái Y để tuyển người tinh thông y học.

Năm 1305, thời Trần Anh Tông (1293-1314), nhà Vua tổ chức thi Thái học sinh, nhưng theo thể lệ mới: sỹ tử phải thi qua bốn trường, mỗi trường thi một số môn:

–         Trường nhất: thi ám tả

–         Trường hai: thi kinh nghĩa, thơ, phú

–         Trường ba: thi chiếu, chế, biểu

–         Trường tư: thi văn sách.

Thứ bậc của thí sinh đỗ như sau: Nhất giáp vẫn theo thứ tự Tam khôi như cũ, nhưng Nhị giáp gọi là Hoàng giáp; Tam giáp gọi là Thái học sinh.

Thời Trần Duệ Tông (1372-1377), khoa thi Thái học sinh năm 1374, ai đỗ Thái học sinh thì gọi là Tiến sỹ, sau đó có tổ chức thi ở điện đình để lấy đậu Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng Giáp.

Nhà Vua quy định lại: thi Hương phải qua bốn trường, nhưng ở trường nhất thì bỏ ám tả, thay bằng hai bài kinh nghĩa; trường hai: thi chiếu, chế, biểu; trường ba: thi thơ, phú; trường tư: thi văn sách. Ai đỗ cả bốn trường mới được gọi là Cử nhân.

Năm 1396, thời Trần Thuận Tông (1388-1398), nhà Vua định việc thi cử. Năm trước thi Hương, năm sau thi Hội. Sau đó, Vua ra đề văn sách cho những người đậu thi Hội để tiếp tục thi Đình để xác định thứ bậc.

Bắt đầu tư năm 1396, quy định thi Hương co các đạo (các vùng) tổ chức; thi Hội , thi Đình do triều đình tổ chức; ai đỗ thi Hội mới được vào thi Đình để xác định thứ bậc.

Trường thi Hương thường là một bãi đất rộng, có rào chắn xung quanh để ngăn cách với bên ngoài. Thí sinh phải mang lều chõng để tự lo lấy chỗ viết bài cho mình.

Dự thi Hội, thi Đình, thí sinh tới kinh đô và không phải lo chuyện dựng lều, kê chõng.

Hai kỳ thi Hội, thi Đình thường được tổ chức liền nhau. Tháng 5 năm Đinh Sửu (1397), Vua Trần Thuận Tông xuống chiếu cải cách giáo dục ở các phủ lộ như sau:

“… Nay thể lệ về nhà học của nước đã được đầy đủ, nhưng ở châu, huyện hãy còn thiếu sót, thì làm thế nào mà mở rộng được đạo dạy dân? Vậy hạ lệnh cho phủ và châu thuộc các lộ Sơn Nam, Kinh Bắc và Hải Dương đều đặt một viên quan Giáo Thụ giữ về việc học hành, cấp cho ruộng theo đẳng cấp sau này: phủ và châu hạng lớn 15 mẫu, hạng trung bình 12 mẫu, hạng nhỏ 10 mẫu để lấy hoa lợi ruộng ấy chi dùng vào việc học trong phủ hoặc châu. Quan cai trị ở lộ đôn đốc việc học phải dạy bảo học trò, cho thành người tài năng văn nghệ …”. (Theo Đại việt sử ký toàn thư, tập II, trang 192)

Ngoài các trường học của nhà nước, trong các xóm thôn còn có những lớp học riêng do các nhà nho mở.

Văn học đời Trần rất thịnh, nhờ khoa cử thúc đẩy. Danh nho có Chu An (Tư nghiệp Quốc Tử Giám, quê Thanh Trì, Hà nội, viết Tứ thư thuyết ước, Tiều ẩn thi tập….), Mạc Đĩnh Chi (chức Tả Bộc Xạ tức Thượng Thư, lưỡng quốc Trạng nguyên, quê Nam Sách, Hải Dương), Nguyễn Trung Ngạn (Quan Thượng Thư, quê Ân Thi, Hưng Yên, viết Giới Hiên toàn tập), Trương Hán Siêu (Quan Tham tri chính sự, quê huyện Yên Khánh, Ninh Bình, năm 1372 được thờ tại Văn Miếu – Quốc Tử Giám), Lê Lập, Phạm Sư Mạnh (Quan Nhập nội nạp ngôn, quê Kinh Môn, Hải Dương, viết Hiệp Thạch tập), Hàn Thuyên (Quan Thượng thư, quê huyện Lương Tài, Bắc Ninh, giỏi thơ Nôm)…

Vương triều Trần không những mở mang việc học hành mà việc thi cử cũng được coi là kiểu mẫu để các đời sau noi theo.

 

Vương triều Hồ (1400-1407)

Năm 1400, Hồ Quý Ly tiếm ngôi nhà Trần, lập nên triều Hồ (1400-1407). Hồ Quý Ly tổ chức kỳ thi Thái học sinh, chọn được 20 người. Nguyễn Trãi đỗ Đệ nhị giáp khoa thi này.

Năm Giáp Thân (1404), Hồ Hán Thương định lại phép thi cử nhân: ngoài bốn trường thi như ở triều Trần, triều đình còn tổ chức một kỳ thi viết chữ Hán và môn Toán pháp, tổng cộng thành ra 5 kỳ thi.

Định lệ cứ 3 năm mở một khoa thi: tháng 8 năm nay thi Hương, người nào trúng tuyển được miễn lao dịch, đến tháng 8 năm sau dự thi ở Bộ Lễ; người nào trúng tuyển mới được lựa chọn bổ dụng; đến tháng 8 năm sau nữa thi Hội, người nào trúng tuyển được gọi là Thái học sinh (tức Tiến sỹ).

Thời nhà Hồ là thời kỳ loạn lạc, giặc Minh xâm lăng, tướng Minh là Trương Phụ cướp hết sách vở kim cổ mang về Kim Lăng (Kinh đô của nhà Minh, bây giờ là Nam Kinh, Trung Quốc), những gì không đem được thì đốt, thiệt hại không kể xiết. Nhà Minh đưa Tống Nho vào Việt Nam

Danh nho thời này có Lý Tử Cấu, một ẩn dật cao sỹ; Võ Mộng Nguyên, sau ra làm quan nhà Lê, nổi tiếng là người văn học đương thời.

Triều Hồ tuy ngắn ngủi nhưng đã chấn chỉnh lại chế độ thi cử và đưa vào chương trình thi Hương ở đầu thế kỷ XV môn Toán pháp, một việc mà mấy trăm năm sau, cho tới trước khi Pháp tới xâm lược nước ta, cũng chẳng có triều đại nào nghĩ tới việc thi toán đối với người sắp được bổ ra làm quan.

 

Triều đại Lê sơ (1428-1527)

Sau gần 10 năm nằm gai nếm mật, vào sinh ra tử, cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo đã thành công, quét sạch giặc Minh trên toàn cõi. Ngày 15 tháng 4 năm Mậu Thân (1428), Lê Lợi lên ngôi vua, lập nên triều đại nhà Lê (Lê sơ).

Lê Thái Tổ (1428-1433) đã cho tổ chức lại việc học, việc thi một cách chính quy hơn.

Trường Quốc Tử Giám hay Thái Học Viện, mở tại kinh đô Đông Đô, là cơ quan giáo dục cao nhất trong nước. Ở các lộ, châu, phủ, trường công cũng như trường tư đều được mở mang. Vua định chương trình học.

Năm 1429, mở khoa thi Minh Kinh chọn người tinh thông kinh sử.

Năm 1431, lại mở khoa thi Hoành Tử để chọn người văn hay, học rộng để bổ dụng ra làm quan.

Đến thời Lê Thái Tông (1433-1442), triều đình mới phục hồi thi Hương, thi Hội như triều Trần. Năm 1438, mở thi Hương. Năm 1439, mở thi Hội. Từ đó, cứ ba năm mở một khoa thi. Thi Hương cũng phải qua 4 trường thi và bài thi như triều Trần. Ai trúng tuyển thi Hội đều gọi là Tiến sỹ xuất thân theo thứ bậc khác nhau.

Năm 1442, mở khoa thi Đình cho những người thi Hội đỗ cả 4 trường, thí sinh làm bài thi do nhà Vua ra đề. Đỗ thi Đình gọi là Tiến sỹ, chia làm 3 bậc:

–         Đệ nhất giáp Tiến sỹ cập đệ, gồm 3 người đỗ đầu: Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa (Tam Khôi).

–         Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân, gọi là Hoàng giáp.

–         Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân, gọi là Tiến sỹ.

Những người đậu đều được ghi danh vào bia đá, gọi là bia Tiến sỹ.

Thời Lê Thánh Tông (1460-1496), năm 1489, nhà Vua cho mở rộng và phát triển trường Quốc Tử Giám gọi là Nhà Thái Học, có nơi cho sĩ tử học tập, lại lập kho Bí thư để lưu trữ sách và ván in sách. Có dãy nhà cho ba hạng xá sinh (học sinh nội trú), mỗi dãy 25 gian.

Các quan lại không phải khoa bảng xuất thân cũng bị bắt buộc học để thi cho tăng thêm kiến thức, trình độ, tài năng cai trị.

Năm 1462, nhà Vua định lại điều kiện cho những người được thi Hương, đặt ra lệ “Bảo kết hương thi”, bắt buộc các xã phải chịu trách nhiệm về tư cách và đạo đức của người đi thi; và đặt ra lệ “Cung khai tam đại”, bắt thí sinh phải kê khai ba đời. Con cháu nhà xướng ca, hay có tội với triều đình thì không được dự thi. Mục đích của các lệ này là để bảo đảm sự chặt chẽ trong việc tuyển chọn quan lại. Phép thi cũng có thay đổi: trước khi vào thi ở trường nhất, thí sinh phải thi trước một bài ám tả để loại bớt những người kém. Nhà Vua cũng chia làm hai hạng  cho những người trúng tuyển thi Hương: đậu 4 trường gọi là Hương cống, đậu 3 trường gọi là Sinh đồ.

Năm 1463, nhà Vua định lại 3 năm thi một khoa.

Năm 1466, định lệ Xướng danh (đọc tên người đậu); người thi đậu được nhà Vua đãi yến, ban mũ, đai, xiêm áo và vinh quy về làng, sau đó được bổ làm quan.

Năm 1472, Vua định phẩm hàm, từ chánh tòng lục phẩm đến chánh tòng bát phẩm cho những người thi đỗ Tiến sỹ.

Nhìn chung, việc học hành thi cử ở triều Lê sơ (1428-1527) có phần rộng rãi hơn trước. Về nguyên tắc, con em quý tộc lẫn con em bình dân đều được đi học, đi thi.

Danh nho thời này có Nguyễn Trãi (hiệu Ức Trai), người làng Nhị Khê (Hà Tây cũ), học suốt kinh sử, bách gia và thao lược binh thư, theo giúp Lê Thái Tổ đánh đuổi giặc Minh, là bậc đệ nhất công thần triều Lê. Ngoài ra, còn có Lê Văn Linh, Bùi Cầm Hổ, Nguyễn Thiên Tích, Nguyễn Trực (đỗ trạng nguyên đời vua Thái Tông), Nguyễn Như Đổ (đỗ bảng nhãn đời vua Thái Tông), Lương Thế Vinh (đỗ trạng nguyên đời vua Thánh Tông), và Đỗ Nhuận – Thân Nhân Trung (đồng tiến sỹ đời vua Thánh Tông, cùng viết Thiên nam dư hạ tập 100 tập nói về điển tích các đời; sách này sau mất mát đi, chỉ còn mấy tập lưu truyền ở đời), Lương Đắc Bằng (đỗ bảng nhãn đời vua Hiến Tông, sang sứ nhà Minh được bộ sách Thái Ất thần kinh truyền cho Nguyễn Bỉnh Khiêm đời nhà Mạc)

Vương triều Mạc (1527-1592)

Năm 1527, Mạc Đăng Dung tiếm ngôi nhà Lê, lập ra triều Mạc (1527-1592). Từ năm 1533 trở về sau, khi có nhà Lê Trung Hưng (1533-1788) thì nhà Mạc coi như ngụy triều, đến năm 1677 thì mất hẳn. Thời nhà Mạc là quãng thời gian xảy ra cuộc nội chiến tàn khốc Nam – Bắc triều kéo dài nửa thế kỷ, vì vậy, việc học hành thi cử có phần sút kém.

Năm 1529, Mạc Đăng Dung mở khoa thi Hội, và đến năm 1532 lại mở tiếp khoa thi Hội. Sau hai khoa thi trên, nhà Mạc vẫn theo lệ cũ, cứ 3 năm mở một khoa thi, mặc dù đất nước đang xảy ra nội chiến.

Danh nho thời này có Nguyễn Bỉnh Khiêm (tự Hanh Phủ, người huyện Vĩnh Lại, đỗ trạng nguyên đời Mạc Đăng Doanh). Ông là người học rất rộng và tinh thông Dịch lý, có tài tiên tri, làm quan tám năm, đến chức Lại bộ tả thị lang thì xin về trí sỹ. Học trò của ông có nhiều người là văn sỹ nổi tiếng như Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh; Nguyễn Dữ (tác giả bộ sách Truyền kỳ mạn lục). Danh nho thời này còn có Giáp Hải, hiệu Tiết Trai, đỗ trạng nguyên, giỏi văn chương và có tài chính trị.

 

Nhà Lê Trung Hưng (1533-1788)

Nhà Lê Trung Hưng (1533-1788) đã cố khôi phục lại việc giáo dục và thi cử. Việc học tập vẫn theo nếp cũ. Năm 1554, thời Lê Trung Tông (1548-1556), bắt đầu đặt Chế khoa, đó là khoa thi đặc biệt để chọn người tài giỏi. Chế khoa được tổ chức sau đó vào các năm 1565 và 1577. Đến năm 1580 thời Lê Thế Tông (1573-1599) mới bắt đầu khôi phục lại thi Hội, chưa tổ chức thi Đình. Từ năm 1583, phục lại lệ 3 năm mở một lần thi Hội.

Năm 1595, Vua cho tổ chức thi Đình cho sỹ tử đậu theo các bậc khác nhau.

Năm 1568, thời Lê Thần Tông (1649-1662), đặt khoa thi Sỹ Vọng, là khoa thi chọn người danh vọng trong hàng sỹ phu. Thí sinh thi đỗ các khoa thi Chế khoa, Sỹ vọng, Hoành tử đều được bổ dụng. Đây là các khoa thi đặt ra để lấy những danh sỹ bỏ sót, là cách tuyển chọn đặc biệt ngoài các khoa thi chính thức.

Năm 1659, nhà Vua cho mở khoa thi Đông Các để chọn người bổ vào các vị trí Đông Các Đại học sỹ, Học sỹ, và Hiệu thư, lấy đậu 5 người, được ban mũ áo như người đậu thi Đình. Thời Lê Hy Tông (1676-1705) và thời Lê Dụ Tông (1705-1720) cũng có tổ chức khoa thi này.

Năm 1664, thời Lê Huyền Tông (1663-1671), mở khoa thi Khảo lại sinh đồ (người đậu 3 trường trong thi Hương). Khảo lại ai trúng cách vẫn là sinh đồ, ai trượt phải học lại 3 năm, sau đó mới cho thi Hương.

Năm 1678, thời Lê Hy Tông (1676—1705), ban hành thêm điều lệ thi Hương: học trò phải được các quan châu, quan huyện khảo hạch trúng cách mới được thi Hương. Các thời vua Lê sau cũng đặt thêm các điều lệ mới trong việc ra đề thi, định phép khảo hạch, việc chép quyển, v.v… Mục đích là để việc chọn người được chặt chẽ hơn.

Năm 1750, thời Lê Hiển Tông (1740-1786), ban hành quy định sỹ tử phải nộp tiền mới được thi Hương, gọi là tiền thông kinh. Đến đây, việc thi cử mất đi sự nghiêm túc, người học kém nhưng có tiền cũng được thi Hương, biến trường thi thành chỗ buôn bán.

Về cuối đời Lê, việc học, việc thi bị suy sụp vì nước có chiến tranh; việc thi cử không chặt chẽ. Nhưng triều Lê Trung Hưng vẫn được coi là triều đại toàn thịnh về văn học, với những tác giả lớn như Nguyễn Bỉnh Khiêm, Lê Quý Đôn, Phan Huy Ích, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm,Nguyễn Mậu Nghi, Phùng Khắc Khoan, Lương Hữu Khánh (con của Lương Đắc Bằng), Phạm Công Trứ, Nguyễn Công Hãng, Lê Anh Tuấn, Phạm Đình Trọng, Lê Quý Đôn (viết rất nhiều sách, trong đó có bộ Lê triều thông sử 30 quyển, Quốc triều tục biên 8 quyển, Danh thần lục 2 quyển, Dịch kinh phu thuyết 6 quyển, Thư kinh diễn nghĩa 3 quyển, Quần thư khảo biện 4 quyển, Liên châu thi tập 4 quyển, Quế đường thi tập 4 quyển, Toàn việt thi tập 20 quyển, Hoàng Việt văn hải, Âm chất văn chú 2 quyển, Vân đài loại ngữ 4 quyển, Kiến văn tiểu lục 2 quyển), Ngô Thế Lân (viết Phong trúc tập), Đặng Thái Phương (viết Chu Dịch quốc âm quyết yếu), và  còn nhiều vị khác nữa.

Thời các Chúa Nguyễn ở Đàng Trong (1558-1777)

Về việc học, các chúa Nguyễn không đứng ra lập trường công mà để cho dân tự lập trường tư. Triều đình chỉ đứng ra tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn người tài.

Năm 1631, thời chúa Sãi, Nguyễn Phúc Nguyên (1613-1634), bắt đầu thi hành việc duyệt tuyển. Việc duyệt tuyển được thực hiện trong một ngày tại các trấn, dinh, đó là kỳ thi “Xuân thiên quận thí”. Người đỗ gọi là Nhiêu học, được miễn thuế sai dịch 5 năm. Triều đình lại tổ chức thi viết chữ Hán (gọi là Hoa văn), người nào trúng tuyển thì được bổ làm việc ở 3 ty: Ty Xá sai (coi việc văn án, tố tụng), Ty Tướng Thần lại (coi việc thu thuế, phát lương), và Ty Lệnh Sử (coi việc tế tự, lễ tiết, quan điền).

Năm 1646, thời chúa Thượng (Nguyễn Phúc Lan) (1635-1648), định phép thi Hội mùa thu (Thu vi Hội thí), 9 năm tổ chức 1 kỳ, mở 2 khoa: khoa thi Chính đồHoa văn tại phủ Chúa ở Phú Xuân. Người đỗ Chính đồ được chia làm 3 hạng: Giáp, Ất, Bính. Hạng Giáp gọi là Giám sinh, được bổ làm Tri phủ, Tri huyện. Hạng Ất gọi là Sinh đồ, được bổ làm Huấn đạo. Hạng Bính cũng gọi là Sinh đồ, được bổ làm Lễ sinh hay Nhiêu học suốt đời. Thi Hoa văn cũng chia làm ba hạng, được bổ ở 3 ty hay làm Nhiêu học.

Đến năm 1675, thời chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần) (1648-1687), lại đặt thêm khoa thi Thám phỏng, hỏi việc binh, việc dân, việc Vua Lê – Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Người trúng được bổ làm ở Ty Xá sai.

Năm 1684, Chúa Hiền bỏ khoa thi Nhiêu học và Hoa văn, chỉ giữ lại khoa Chính đồ, nhưng đến đời Chúa Nghĩa (Nguyễn Phúc Thái) (1687-1691), năm 1689, lại mở khoa Hoa văn.

Năm 1695, Chúa Quốc (Nguyễn Phúc Chu) (1691-1725) đặt khoa thi Văn chứcTam ty ở sân phủ Chúa.

Năm 1740, Chúa Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) định lại phép thi Hội mùa Thu, thi làm 4 kỳ:

–         Kỳ nhất: trúng cách gọi là Nhiêu học tuyến trường, được miễn sai dịch 5 năm.

–         Kỳ nhìkỳ ba: trúng cách gọi là Nhiêu học thí, được miễn sai dịch suốt đời.

–         Kỳ tư: trúng cách gọi là Hương cống, được bổ làm Tri phủ, Tri huyện, Huấn đạo.

Việc tổ chức thi ở Đàng Trong dưới thời Chúa Nguyễn chưa được hoàn bị như ở Đàng Ngoài. Tuy nhiên, để đáp ứng tình hình thực tế, các khoa thi như Hoa văn, Thám phỏng, Tam ty được mở để các Chúa Nguyễn tuyển chọn được người làm việc am hiểu tình hình Đàng Ngoài lúc đó. Do vậy, các khoa thi ít chuộng văn học.

Danh nho thời này có Nguyễn Du (quê Tiên Điền, Nghi Xuân, Nghệ An, viết Truyện Kiều), Lý Văn Phức (quê Hà nội, trước tác nhiều), Nguyễn Công Trứ (quê Nghi Xuân, Hà Tĩnh, trước tác nhiều), Nguyễn Văn Siêu (quê làng Kim Lũ, huyện Thanh Trì, Hà nội, trước tác nhiều), Cao Bá Quát (quê làng Phú Thị Gia Lâm, Hà nội, trước tác nhiều), Nguyễn Khuyến (quê huyện Ý Yên, Nam Định, trước tác nhiều)….

Triều đại Tây Sơn (1778-1802)

Triểu đại Tây Sơn tuy ngắn ngủi, nhưng Vua Quang Trung (1888-1892) cung đã ra sức xây dựng và phát triển nền văn hóa dân tộc. Việc học được mở rộng.

Vua Quang Trung ban bố Chiếu lập học khuyến khích các xã mở trường học: các xã lập Nhà Xã học, chọn Xã giảng dụ (Thầy dạy học ở xã). Nhà Vua đã đưa chữ Nôm lên địa vị chữ viết chính thức của quốc gia, cho lập Sùng Chính Viện, cử La Sơn phu tử Nguyễn Thiếp (quê huyện Can Lộc, Hà Tĩnh), một học giả nổi tiếng của Bắc Hà làm Viện trưởng để chấn chỉnh nền nho học và dịch sách chữ Hán ra chữ Nôm. La Sơn phu tử dịch xong các sách Tiểu học, Tứ thưNgũ kinh ra chữ Nôm, chưa kịp cải cách thì vua Quang Trung mất.

Việc thi cử cũng được chấn chỉnh lại, nhằm đào tạo một tầng lớp nho sỹ, quan lại mới, có năng lực phục vụ cho chính quyền. Những sinh đồ trúng tuyển trong các kỳ thi trước đó đều phải thi lại, những kẻ dùng tiền mua bằng cấp đều bị thải hồi.

Năm 1789, Vua Quang Trung cho mở khoa thi Tuấn sỹ ở Nghệ An như thi Hương để chọn kẻ sỹ có tài đức. Vì triều đại ngắn ngủi, Vua Quang Trung mất sớm nên việc học việc thi chưa có điều kiện phát triển.

Vương triều Nguyễn (1802-1945)

Dưới triều Nguyễn, bắt đầu từ Vua Gia Long (1802-1820), việc tổ chức học rập khuôn theo triều Lê. Vua Gia Long cho lập Nhà Quốc học ở Huế; đến đời Minh Mạng (1820-1840) gọi là Quốc Tử Giám, dùng làm nơi dạy các sinh đồ, có học xá, học phòng. Ở phủ, huyện có Giáo thụ, Huấn đạo, trông coi việc học khu vực mình và dạy Tứ thư, Ngũ kinh, Bắc sử cho học trò. Triều Nguyễn có Bộ Lễ để quản việc học trong cả nước.

Tại các làng xã, việc học do dân lo liệu lấy, từ trường sở, thầy dạy, đến phí tổn đào tạo.

Về thi cử, triều Nguyễn vẫn tổ chức theo phép thi của triều Lê.

Năm 1804, Vua Gia Long cho mở lại khoa thi Hương và định lệ cứ 6 năm mở một khoa thi.

Năm 1822, Vua Minh Mạng cho mở thi Hội. Đến năm 1825, nhà Vua định lệ cứ 3 năm mở một khoa thi Hội vào những năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi. Thi Hương nếu đỗ 4 kỳ thì gọi là Cử nhân (triều Lê gọi là Hương cống), nếu đỗ 3 kỳ thì gọi là Tú tài (triều Lê gọi là Sinh đồ), nếu đỗ 2 kỳ thì gọi là Nhị trường, nếu đỗ 1 trường thì gọi là Nhất trường.

Thi Hương có nhiều người đỗ tú tài hai, ba, bốn, năm lần, thậm chí còn hơn nữa nhưng vẫn không đỗ được Cử nhân. Những người đó thường được gọi là Tú kép, Tú mền, Tú đụp….

Năm 1829, thời Minh Mạng (1820-1841), tùy theo số điểm thi trong kỳ thi Hội mà lấy đỗ làm 2 hạng: Chính bảng (Tiến sỹ) và Phó bảng (Tiến sỹ hạng 2).

Năm 1832, triều sửa lại lại phép thi Hương, thi Hội, 4 trường rút lại còn 3 trường:

–         Trường nhất: thi kinh nghĩa

–         Trường nhì: thi thơ, phú

–         Trường ba: thi văn sách.

Năm 1844, thời Thiệu Trị (1841-1847), nhà Vua cho phép các Giáo thụ, Huấn đạo đã đỗ cử nhân, tú tài cũng được dự kỳ thi Hội.

Đến thời Tự Đức (1847-1883), vào năm 1851, triều đình tổ chức thi lại 4 trường và bỏ lệ chấm thi hết 4 trường mới cho đỗ. Thay vào đó, sửa đổi lại là: trúng cách trường nhất mới vào trường nhì, trúng cách trường nhì mới vào trường ba, v.v…

Năm 1852, Vua Tự Đức vẫn giữ thi 4 trường cho thi Hội nhưng thi Hương rút lại còn 3 trường: trường nhất thi kinh nghĩa; trường nhì thi chiếu, biểu, luận; trường ba thi văn sách.

Năm đầu thời Vua Kiến Phúc (1883-1884), quy định bài thi Hương nào có điểm cao phải thi thêm kỳ phúc hạch, xét coi văn, chữ xem có giống mấy kỳ trước không thì mới lấy đậu Cử nhân; nếu văn chữ kém thì lấy xuống Tú tài; nếu thấy có sự khác biệt thì giao Bộ Lễ nghiên cứu.

Về trường thi, thời Gia Long có 7 trường thi tại các tỉnh: Thừa Thiên, Bình Định, Gia Định, Nghệ An, Thanh Hóa, Nam Định và Hà Nội.

Đến thời Đồng Khánh (1886-1888), nhà Vua bỏ trường thi Nam Định và Hà Nội, sát nhập thành trường Hà Nam.

Triều Nguyễn không lấy đỗ Trạng nguyên và không bổ Tể tướng, do đó, người đổ cao nhất là Bảng nhãn. Triều Nguyễn lại đặt nhiều điều cấm kỵ khắt khe (trường quy) cho nên nhiều người học lực cao mà vẫn không đậu.

Ngoài thi Hương, thi Hội, triều Nguyễn còn đột xuất mở các khoa thi Hoành tử, khoa thi Cát sỹ (tuyển chọn người hay chữ), khoa thi Nhã sỹ (tuyển chọn người phong nhã), khoa thi Uyên bác (tuyển chọn người học rộng).

Năm 1858, Pháp tấn công vào Đà Nẵng, mở đầu cuộc xâm lược nước ta.

Bằng hòa ước 1862, Pháp đặt nền đô hộ Nam Kỳ. Năm 1884, bằng hòa ước Patenôtre, triều đình Huế công nhận sự bảo hộ của Pháp, chia nước ta thành hai khu vực: Bắc kỳ và Trung Kỳ, do triều đình cai trị, nhưng thực quyền nằm trong tay người Pháp.

Từ thế kỷ 18, các giáo sỹ phương Tây vào nước ta truyền đạo, đã học tiếng Việt để giảng đạo và dùng chữ cái La tinh ghi âm tiếng Việt. Giáo sỹ Bồ Đào Nha đã soạn cuốn Từ vựng An Nam – Bồ Đào NhaTừ vựng Bồ Đào Nha –An Nam. Năm 1651, Alexandre de Rhodes (thường gọi là A lếch xăng đờ Rốt) xuất bản cuốn Từ điển An Nam – Bồ Đào và La tinh. Cuối thế kỷ 18, đầu thế kỷ 19, Pignean de Behaine (Tức Bá Đa Lộc) và Taberd Crabe soạn Từ điển An Nam – La Tinh, xuất bản năm 1836. Qua mấy thế kỷ, chữ quốc ngữ có nhiều sửa đổi, dần dần thay thế cho chữ Hán và chữ Nôm, và trở thành văn tự phổ biến và chính thống của nước ta.

Ở Nam Kỳ, bằng Nghị định từ năm 1879, việc tổ chức nền học chính đã đã đưa chữ quốc ngữ và cả chữ Pháp vào chương trình học và thi cử. Bên cạnh chữ Hán, việc học tập và thi cử đều do chính quyền Pháp tổ chức.

Ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ, từ năm 1905, toàn quyền Paul Bean chủ trương cải cách giáo dục, lập Hội đồng cải cách giáo dục toàn Liên bang Đông Dương; năm 1906, lập Nha học chính Đông Dương.

Năm 1906, thời Vua Thành Thái (1889-1907), ra sắc lệnh cải cách giáo dục theo đường lối giáo dục của Pháp đề ra. Việc cải cách này chú trọng dạy chữ quốc ngữ, chữ Pháp, chấm dứt sự độc tôn của chữ Hán ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ, nhưng không bỏ hẳn chữ Hán ở Nam Kỳ. Việc học từ đó chia làm ba bậc: ấu học, tiểu học, và trung học.

Bậc ấu học được tổ chức tại các làng xã, do các thầy đồ dạy chữ Hán và chữ quốc ngữ. Học hết bậc này, thi lấy bằng tuyển sinh. Bài thi bằng chữ Hán và chữ quốc ngữ.

Bậc tiểu học mở ra để dạy các học sinh tại các phủ, huyện, do các Giáo thụ, Huấn đạo trông nom. Ngoài Tứ thư, Ngũ kinh, học sinh còn học thêm Nam sử và chữ Hán. Chữ quốc ngữ được dùng làm chữ viết. Có một số ít người tình nguyện học thêm chữ Pháp. Đặc biệt, bậc học này không dạy câu đối, thơ, phú, văn bác cổ. Học hết bậc này, thi bằng Khóa sinh được tổ chức tại tỉnh lỵ.

Bậc trung học mở dạy các khóa sinh ở các tỉnh lỵ, do đốc học điều khiển. Đốc học dạy chữ Hán, các giáo viên trường Pháp Việt dạy chữ quốc ngữ và cả chữ Pháp.

Các môn học ở các bậc trên vẫn lấy Tứ thư, Ngũ kinh làm gốc, ngoài ra, còn học thêm một vài môn như Vạn vật, Lịch sử, Địa lý, Toán học, v.v….

Tại Huế, vẫn duy trì trường Quốc Tử Giám, nhưng bên cạnh có mở thêm trường Hậu bổ đào tạo các quan lại về hành chính và trường Quốc học dạy toàn tiếng Pháp. Tại Hà nội, cũng mở trường Sỹ hoạn (tương đương với trường Hậu bổ) và trường Bảo hộ (tương đương với trường Quốc học).

Các tỉnh lỵ, phủ, huyện lớn còn mở thêm trường tiểu học Pháp – Việt cho học sinh không muốn theo học chương trình chữ Hán.

Hết bậc học này, thi lấy bằng cơ thủy và được vào học ở trường Quốc học hoặc trường Bảo hộ.

Các kỳ thi Hương dưới các thời Thành Thái, Duy Tân, Khải Định đều có sửa đổi. Các trường thi Hương cũng bị giảm bớt, chỉ còn lại 4 trường ở miền Trung là trường Thừa Thiên, trường Bình Định, trường Nghệ An, và trường Thanh Hóa; và một trường tại miền Bắc là trường Hà Nam.

Triều đình đặt thêm Bộ Học để trong coi việc học hành và thi cử. Bài thi không còn thi thơ phú, kinh nghĩa mà thay vào đó là về Kinh truyện, Bắc sử, Nam sử, Địa lý, Pháp luật Đông Dương, Chính trị, Luận chữ Hán, Luận quốc sử, bài tình nguyện dịch tiếng Pháp ra quốc ngữ (không bắt buộc). Đặc biệt, các kỳ thi Hương quy định cho điểm từ 0 đến 20. Qua các kỳ thi, nếu thí sinh đạt từ 30 đến 39 điểm thì cho đỗ Tú tài; từ 40 điểm trở lên phải qua kỳ thi phúc hạch và ở kỳ phúc hạch phải đạt 7 điểm trở lên mới cho đậu Cử nhân.

Chương trình thi Hội và thi Đình cũng sửa lại cho hợp với chương trình học mới. Năm 1915, đời Vua Duy Tân (1907-1916), khoa thi Hương cuối cùng được tổ chức tại miền Bắc.

Năm 1918, đời Khải Định (1916-1925), tổ chức khoa thi Hương cuối cùng tại Nghệ An, Bình Định (cho 4 trường sát nhập lại) và năm sau, 1919, tổ chức khoa thi Hội cuối cùng, chấm dứt việc học và thi cũ.

Ngày 21 tháng 12 năm 1917, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định ấn định lại việc thi. Nha Tổng Giám đốc Học chính Đông Dương bãi bỏ chương trình cải cách năm 1906, ban bố học quy mới, áp dụng trên toàn cõi Đông Dương. Việc học được chia làm 3 bậc, gồm Tiểu học, Trung học, và Đại học.

Bậc tiểu học: Có 3 cấp, gồm sơ học, tiểu học, và cao đẳng tiểu học.

Sơ học: Có 3 lớp: Năm, Tư, Ba. Học quốc ngữ các môn: Viết văn, Luận văn, Cách trí, Vệ sinh, Toán, Sử, Địa. Có dạy thêm chữ Hán và chữ Pháp.

Học hết lớp 3, thi lấy bằng sơ học yếu lược, tương đương với bằng tuyển sinh. Thi cử gồm có thi viết và vấn đáp đối với tất cả các môn đã học. Riêng chữ Hán và chữ Pháp, học sinh tình nguyện thi, không bắt buộc.

Tiểu học: Có lớp Nhì và lớp Nhất. Riêng lớp Nhì có lớp Nhì năm thứ nhất (gọi là Nhì nhỏ) và lớp Nhì năm thứ hai (gọi là Nhì lớn). Học các môn ở các cấp sơ học, nhưng chuyên ngữ là tiếng Pháp. Về sử học, học Nam sử lẫn Pháp sử. Học sinh có học thêm quốc văn và Hán tự. Học hết lớp Nhất, thi lấy bằng cơ thủy (bằng sơ học Pháp – Việt), gọi là bằng Primaire, thi viết và vấn đáp. Học sinh phải đạt trung bình thi viết mới được vào thi vấn đáp.

Cao đẳng tiểu học: mở ra cho học sinh đậu bằng sơ học vào học. Cấp học này học 4 năm, cuối năm thứ 4 thì thi lấy bằng Thành Chung (bằng Cao đẳng tiểu học) gọi là bằng Diplome. Cấp này học chuyên bằng tiếng Pháp, học ngữ học Pháp, Sử Pháp, Sử Việt, Toán, Lý, Hóa, Vạn vật, Vẽ, Nữ công. Trường mở tại các tỉnh lớn và ở Hà Nội, Huế, Sài gòn. Tại các nơi đó cũng có các trường tư thục. Thi cũng gồm thi viết và vấn đáp. Điểm thi viết bài ám tả Pháp, bài luận đạt 6 điểm/20 điểm mới được chấm các bài khác. Bằng Thành Chung xếp loại từ thấp lên cao: Thứ, Bình Thứ, Bình Ưu, Tối Ưu.

Bậc trung học: Học sinh thi đậu bằng Thành Chung mới được tuyển vào học trung học, học 3 năm. Chương trình học phổ thông theo chương trình trung học của Pháp, chuyên ngữ là tiếng Pháp, xen lẫn tiếng Việt và học thêm một ngoại ngữ ngoài tiếng Pháp.

Trường trung học được mở tại Hà Nội, Huế, Sài gòn. Cuối năm thứ 3 thi lấy bằng Tú tài bản xứ (Việt), chia làm 2 phần: Phần thứ nhất (bán phần) và phần thứ hai (toàn phần). Thi viết và thi vấn đáp. Đậu cũng được xếp thứ từ Thứ đến Tối Ưu.

Ngoài ra, tại Hà Nội, Huế, Sài gòn và các tỉnh lộ lớn còn có trường Công nghệ thực hành (gọi là trường bách nghệ) để đào tạo công nhân chuyên môn. Ở Tuyên Quang, Biên Hòa, có trường Canh nông thực hành. Ở Hà Nội có trường Cao đẳng Mỹ thuật, đã đào tạo được một số nghệ sỹ tài năng về hội họa, điêu khắc.

Ở các tỉnh lớn, Chính phủ Pháp cho mở các trường Pháp (gọi là Lycee) dành riêng cho trẻ em Pháp và một số ít học sinh Việt vào học. Trường này cũng có 3 bậc học và học chương trình của Pháp. Cuối năm trung học, học sinh thi lấy bằng Tú tài Pháp (phân biệt với bằng Tú tài bản xứ).

Bậc đại học:  Được mở từ năm 1919. Lúc đầu chỉ có các trường cao đẳng đào tạo chuyên  viên chuyên môn cho Chính phủ. Sau đó, các trường đại học Y, Dược, Luật cũng được mở. Năm 1938, cho mở thêm trường Nông Lâm, Công chính, lấy học sinh tốt nghiệp trung học vào học. Tiếp đó, trường Khoa học cũng được mở.

Các trường tư thục, các bậc học cũng được mở ra, nhưng phải tuân theo quy định của nhà nước bảo hộ.


([1]) “Văn miếu hay Văn chỉ đều có nghĩa là nơi thờ phụng và tế lễ Đức Khổng Tử, vì Đức Khổng Tử được xem là ông tổ của văn chương, nhưng cần phân biệt:

–          Văn miếu là đền thờ Đức Khổng Tử tại kinh đô hay tại các tỉnh thành, được xây dựng qui mô lớn.

–          Văn chỉ là đền thờ Đức Khổng Tử tại các làng xã hay quận huyện, nếu nó chỉ là cái nền đất để tế lễ thì gọi là Văn chỉ, còn nếu có cất nhà thờ thì gọi là Văn từ (文祠 )

Mỗi làng có một Văn từ hoặc Văn chỉ. Đàn lộ thiên gọi là Văn chỉ, có lợp mái gọi là Văn từ. Văn từ, Văn chỉ để thờ riêng những bậc khoa hoạn trong làng. Có làng hiếm văn học, chưa có người hiển đạt thì thờ Đức Khổng Tử, gọi là Tiên Thánh Sư để làm chủ trương cho việc văn học trong làng. Các nơi thờ riêng những bậc khoa hoạn, đại để chia làm ba hạng:

–          Hạng nhất là những người đỗ Đại khoa (Tiến sĩ) và những người làm quan từ Tam Tứ phẩm trở lên, thờ ban giữa.

–          Hạng nhì là những người đỗ Trung khoa (Cử nhân) và những người làm quan từ Lục Thất phẩm trở lên, thờ ban hữu.

–          Hạng ba là những người đỗ Tiểu khoa (Tú tài) và những người làm quan đến Bát Cửu phẩm, thờ ban tả.

Đến khi tế tự thì đem cả hào mục, tổng lý và các thầy đồ trong làng vào phối hưởng. Nhưng nhiều nơi chỉ trọng riêng về đường khoa mục, hễ có đỗ mới được liệt tự, còn như làm quan, dẫu đến Nhất Nhì phẩm mà không có chân khoa mục, cũng không được dự, chỉ đến lúc tế mới đem vào phối hưởng mà thôi.

Mỗi năm, tháng hai, tháng tám, tế hai kỳ gọi là Xuân Thu nhị đình. Có nơi cả làng tế, có nơi chỉ người có chân trong hội tư văn mới được dự tế. Năm nào có khoa thi thì cả sĩ tử trong làng hội lại làm lễ kỳ khoa, hoặc cả làng làm lễ, để cầu cho hương thôn được nhiều người hiển đạt. Khi thi xong, ai được đỗ thì lúc về phải có lễ ra Văn chỉ để tạ ơn tiên hiền.” (Theo Việt nam Phong Tục của Phan Kế Bính)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s