d. Các tác phẩm triết học của nho gia Việt nam

Nhà nho có danh đời nào cũng xuất hiện, tên tuổi còn ghi lại nhiều. Ngoài công lao kinh bang tế thế, tiên nho Việt Nam còn giúp vào việc giáo hóa, trước tác thơ văn nhiều loại. Riêng về mặt triết học, cũng rất phong phú, không những phô diễn đạo lý cổ truyền Khổng-Mạnh, Trình-Chu mà còn bày tỏ ít nhiều quan điểm riêng của người Việt, thể hiện hoặc tinh thần độc lập hoặc ý thức đối kháng với tư tưởng Trung Hoa. Tiếc thay, sách vở đã bị thất tán, tiêu hủy sau bao thế kỷ binh lửa, nhất là khi nhà Hồ thất thủ, tướng Minh là Trương Phụ lấy cả sách vở cổ kim đưa về Kim Lăng (Kinh đô của nhà Minh, bây giờ là Nam Kinh, Trung Quốc).

Hãy xem chỉ dụ của vua Minh Thành Tổ (Trung Quốc) gửi Trương Phụ  ngày 21/8/1406:

“… Một khi binh lính đã vào nước Nam… thì hết thảy mọi sách vở văn tự, cho đến các loại ca lý dân gian, các sách dạy trẻ nhỏ… một mảnh một chữ phải đốt hết. Khắp trong nước … các bia do An Nam dựng thì phải phá hủy tất cả, một chữ chớ để sót….”.

Chín tháng sau, Minh Thành Tổ lại gửi chỉ dụ thúc giục:

Nhiều lần đã bảo các ngươi rằng phàm An Nam có tất thảy sách vở văn tự gì, kể cả các câu ca lý dân gian, các sách dạy trẻ nhỏ, và tất cả các bia mà xứ ấy dựng lên, thì dù một mảnh, một chữ, hễ trông thấy là phá hủy ngay lập tức, chớ để sót lại”.  

Như thế để thấy tâm địa thâm độc của người Trung Quốc muốn xóa hết nguồn gốc của người Việt ta, chặt đứt hết mọi sợi dây văn hóa lịch sử của người Việt ta, xóa hết dấu vết tội ác của chúng còn để lại trên đất nước này, kể cả trong từng câu ca lý dân gian.

Lại đến đầu nhà Lê, năm Hồng Thuận, đời Lê Tương Dực (1509-1516), bị loạn Trần Cảo ([1]), thư tịch một lần nữa bị tản loạn. Khi đó, kinh thành bị mất, nhân dân tranh nhau vào các nơi cung cấm dinh thự lấy tiền của; văn thư, sách vở ném đầy đường. (theo Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú)

Văn tịch chí trong Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú và Tìm hiểu kho sách Hán-Nôm của Trần Văn Giáp là hai trong những tài liệu quý hiếm, kể ra được một phần nào sách vở còn giữ lại hay còn ghi nhận được, nhờ đó cũng giúp đời sau có cái nhìn khái lược về tư tưởng triết học của nhà Nho Việt Nam đời trước. Căn cứ hai tài liệu ấy, qua một số tác phẩm mang tính triết học, giáo dục của người Việt, có thể dẫn lại một ít nhan đề tiêu biểu như sau (không nói tới rất nhiều sách khảo cứu lịch sử, địa dư, sáng tác văn chương):

Tứ thư thuyết ước, mười quyển, Chu An (1292-1370) đời Trần soạn, nay không còn. Chu An tự Linh Triệt, hiệu Tiều Ẩn, thụy Văn Trinh, tôn hiệu Khang Tiết Tiên sinh, người xóm Văn Thôn, làng Quang Liệt, huyện Thanh Trì (ngoại thành Hà Nội sau này). Đậu thái học sinh, không ra làm quan, ở nhà dạy học, nổi tiếng đạo đức, rất đông học trò. Đời Trần Minh tông được mời ra làm quốc tử giám tư nghiệp. Đời Trần Dụ tông, dâng sớ xin chém bảy nịnh thần, Vua không trả lời, ông từ chức về ẩn ở núi Kiệt Đặc (sau là núi Phụng Hoàng, huyện Chí Linh, thuộc Hải Hưng sau này). Tháng 12-1370, được đưa vào thờ ở Văn Miếu.

Chu dịch quốc âm giải nghĩa, hai quyển, cũng gọi Chu dịch quốc âm ca [quyết], Đặng Thái Phương [có sách chép là Đặng Thái Bàng] (1674-?),đời Hậu Lê soạn xong trước năm Quý hợi (1743). Tác phẩm dùng thơ lục bát giải nghĩa từng hào (diễn ca); như quẻ Càn, hào sơ cửu Tiềm long vật dụng (rồng ẩn náu chớ nên dùng) diễn ca là:

Sơ cửu hào nghĩa tiềm long,
Bé còn ở dưới mà dùng làm chi.
 

Đặng Thái Phương (có sách ghi là Đặng Thái Bàng) người làng Uy Viễn, huyện Nghi Xuân, trấn Nghệ An (xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, Nghệ Tĩnh sau này). Năm hai mươi hai tuổi thi đậu khoa Hoành từ, làm tri huyện Giáp Sơn (trấn Hải Dương), thăng hiệp trấn, rồi hiến sát sứ Thanh Hóa. Năm 1743 làm tham nghị xứ Sơn Nam.

Tứ thư ngũ kinh toản yếu, mười lăm quyển, Nguyễn Huy Oánh (1713-1798) đời Hậu Lê soạn. Ông tự là Thư Hiên, hiệu Thạc Đình, người làng Lai Thạch, huyện La Sơn, Nghệ Tĩnh. Đậu thám hoa (1748), làm quan đông các đại học sĩ (1765), thăng lại bộ tả thị lang (1766) làm chính sứ sứ bộ sang cống triều Thanh, trở về thăng tước bá, rồi tước thạc lĩnh hầu, nghỉ hưu, lại được mời ra làm quan, thăng đô ngự sử.

Tính lý toản yếu, hai quyển, Nguyễn Huy Oánh soạn. Quyển này và quyển trên nhằm tóm tắt các sách Tứ thư, Ngũ kinh, Tính lý, tiện lợi cho Nho sinh chuẩn bị thi cử.

Thánh mô hiền phạm lục, mười hai quyển, Lê Quý Đôn (1726-1784) đời Hậu Lê soạn. Ông tự Doãn Hậu, hiệu Quế Đường, quê làng Diên Hà, trấn Sơn Nam hạ (nay là thôn Phú Hiếu, xã Độc Lập, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình). Làm quan giữ chức thị độc Tòa Hàn lâm, sung Tư nghiệp Quốc tử giám, làm phó sứ sang Trung Quốc, tước Dĩnh thành bá, rồi lần lượt giữ rất nhiều chức vụ quan trọng. Khi mất được truy tặng thượng thư Bộ Công, tước Dĩnh thành công. Tác phẩm rất nhiều. Khi soạn Thánh mô hiền phạm ông trích lục nguyên văn những lời nói của thánh hiền, xếp loại, chia thành mười hai đề mục, ghi rõ xuất xứ từng câu đã trích trong Dịch, Thi, Thư, Xuân thu Tả truyện, Lễ ký, Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Gia ngữ, Hiếu kinh, Mạnh tử, Chu tử, Quốc sách, Quốc ngữ, Sử truyện, Tiên nho cách ngôn…

Thư kinh diễn nghĩa, ba quyển, Lê Quý Đôn soạn. Trong bài Tựa viết năm 1772, ông bày tỏ:

“Tôi thường nghe, trị thiên hạ không thể không có chính sự, mà xưa nay người bàn về chính sự thường lấy sách Thượng thư làm gốc. (…) Tôi thật ngu lậu, nghiền ngẫm lâu năm, hiểu qua nghĩa lớn, mỗi khi đọc sách ấy chỉ cảm thấy ý vị dạt dào, lý thú vô cùng, chỗ nào xúc động mà phát minh thì tùy bút chép lại, chứng dẫn các truyện ký, bàn bạc việc xưa nay, đều là muốn làm ấn chứng cho sách của thánh nhân. Hễ chỗ nào cốt yếu thì thường thường nêu ra, ý muốn cho những người làm tôi sau này, trong khi xem sách và xét mình, thấy điều hay điều phải thì hăng hái phấn khởi; thấy điều xấu điều trái thì sợ hãi e dè, để mà chăm lo công nghiệp, giữ gìn chức vụ, họa chăng có ích. Còn như noi gương điều đã thành công, răn dè điều đã thất bại, giữ thịnh phòng suy, sách này cũng có thể dùng làm sách để nhà vua có bên cạnh mình mà xem luôn, dùng làm công cụ lấy đức trị dân. Đến như những lời truyện, lời chú của tiên nho, hoặc có chỗ giống nhau khác nhau và có chỗ đáng ngờ thì đều có biện chính sơ qua…” 

Dịch kinh phu thuyết, năm quyển, Lê Quý Đôn soạn. Trong bài Tựa, ông viết:

“Sáu kinh là dạy về cách trí, thành chính, tu tề, trị bình, nhưng công việc về trời đất, về người, cùng là phép tắc của muôn vật, thì chỉ Kinh Dịch là đầy đủ. Từ Phục Hy vạch quẻ, chí lý ở chỗ không có lời, đến Văn Vương và Chu Công mới diễn ra lời thoán, lời hào để dạy đời sau, nhưng nói còn rất sơ sài.  Khổng Tử lúc tuổi già mới thích học Dịch. Khi sửa dọn sáu kinh thì Kinh Xuân Thu là theo sử nước Lỗ mà chép, có thêm bớt đôi chút. Kinh Lễ thì cứ chép theo văn thư cũ, chỉ riêng Kinh Dịch thì làm phần Thập dực, giải thích rộng rãi, không quản nhiều lời. Văn chương của Khổng Tử là ở đó mà lời nói về tính và đạo Trời của Phu Tử cũng là ở đó, cốt để chỉ vẽ cho thiên hạ và đời sau, tha thiết biết là nhường nào! Tôi từng trộm bàn: đạo trời đất vốn hữu thường, thế mà khi đầy khi vơi, lúc thịnh lúc suy, sự biến đổi xưa nay không cùng; lòng yêu ghét, lúc hợp tan, tình của người và vật không chỉ một mối mà đều tóm cả ở trong 384 hào của 64 quẻ. Quẻ có tác dụng tùy thời của quẻ, hào có tác dụng tùy thời của hào, thánh nhân không có chỗ nào là không dạy người ta cái đạo khuôn xử: như thế là lành, như thế là dữ, như thế là nên lo ngại, như thế là không tai vạ, dùng hình tượng rất tinh xác, giải nghĩa rất tỷ mỷ, rất mực tỏ tường việc trước, xét nghiệm việc sau, cho cùng lẽ [của Trời Đất] cho hết tính [của người vật], mà không ngoài các đạo thường về nhân luân và nhật dụng. Tử Cống có nói: “Thấy mà không nói gì, thì bọn học trò chúng tôi biết theo cái gì?”. Ôi! Đúng lắm. Nay hãy đem lời nói trong Đại tượng các quẻ mà nói. Về việc sửa mình thì như những câu “nói năng cẩn thận, ăn uống dè dặt, bớt giận dữ, nén tình dục, sửa lỗi, theo thiện, quả quyết việc làm, chăn nuôi đức tính, hăng hái không ngừng, không làm phi lễ”. Về việc trị nước thi như những câu “giữ thường đức hạnh, giảng tạp giáo hóa, bao dung dân chúng, săn sóc người dưới cho yên nhà cửa, lấy bớt chỗ nhiều thêm cho chỗ ít, giữ gìn nhân đức, trau dồi phong tục, ban lộc kẻ dưới”. Chỉ một câu, nửa lời, mà dùng không thể xiết, đức cao nghiệp rộng, thực là ở đó. Huống chi, thông suốt các quẻ, nghiền ngẫm các hào, trên thì suy đến đạo Trời, dưới thì xét đến tình vật, giữa thì tham khảo sự tích của cổ nhân, lời nói việc làm đều trung chính, khi động khi tĩnh rất kính thành, để cho giữ được tốt lành, khỏi được hung dữ, đó chẳng phải là sơ ý lập giáo của thánh nhân ru? Tôi ngu hèn học kém, kính đọc lời dạy của thánh nhân, nghiên cứu truyện nghĩa của họ Trình, họ Chu, xét thêm những lời chú thích của tiên nho, có khi xúc động mà phát minh ra, nói thêm mấy lời, tất cả năm quyển, chỉ cốt để sửa lấy tâm thân cho ít lầm lỗi, còn như đem thi thố ra sự nghiệp thì đâu dám nói đến. Ôi! Sách không hết lời, lời không hết ý. Sáng suốt để rõ là ở người, lặng ngầm để hiểu, không nói mà tin là cốt ở đức hạnh. Các sĩ quân tử học Kinh Dịch thì không những là chỉ xem tượng mà học thuộc lấy lời, xem biến mà học thuộc câu bói, còn cần phải cẩn thận đức hạnh để hiểu ngầm ý của thánh nhân ở ngoài lời sách mới được.” 

Âm chất văn chú, hai quyển, Lê Quý Đôn soạn. Âm chất văn tương truyền là của Văn Xương Đế quân, nói về thiện ác báo ứng, bao gồm tư tưởng Tam giáo. Trong Đề từ, Lê Quý Đôn cho biết ông đã căn cứ theo Đan quế tịch, bốn quyển, của Hoàng Chính Nguyên đời Thanh (1761) và Âm chất văn chú, hai quyển, của Tống Tư Nhân đời Thanh (1776). Lê Quý Đôn viết:

Văn Xương Đế quân có bài huấn gồm 541 chữ. Các bậc hiền triết xưa suy diễn ý chí để giúp cho người ghi nhớ mà cố sức theo. Lại chép những việc thiện ác báo ứng ngay dưới mỗi tiết, khiến cho người ta ham làm thiện mà không dám làm ác, sách ấy có quan hệ rất lớn đến việc dạy đời.

Năm Càn Long thứ 26 (1761), ở Trung Quốc có người ở đất Mân là Hoàng Chính Nguyên đem hợp cả ba tập Tinh thiên chân cảnh, Dục hải từ phàm, Ngự hư gia làm tập Đan quế tịch và chia làm 4 quyển Nguyên, Hanh, Lợi, Trinh. Năm Càn Long 41 (1776), người Tô Châu là Tông Tư nhân hợp những bản chú thích cũ mà thêm bớt làm tập Âm chất văn chú, chia làm 2 quyển thượng hạ. Thể văn và lời chú hai bộ sách ấy tuy không giống nhau, nhưng cái ý nêu rõ lời thánh nhân dạy để giác ngộ người đời thì là một.

Tôi không tự xét mình, nhân lấy hai sách ấy bổ thêm vào một ít, chia làm hai quyển, trong phần diễn giải, hoặc lấy của họ Hoàng, hoặc lấy của họ Tô, còn thuật lại các chuyện báo ứng thì có khi lấy ở sách khác bỏ thêm vào, hoặc bỏ chỗ chú cũ đi, có khi bớt những chữ rườm, thay đổi cước chú, xếp theo từng loại, tất cả là 283 việc, cốt cho lời gọn mà nghĩa sáng, việc rành mạch mà lẽ rõ rệt. Trước là để tự răn lòng xét mình, tu dưỡng tính tình, cố gắng sao cho đến được chỗ ít lầm lỗi, sau là để dạy bảo con cháu, phổ khuyến nhân sĩ, mong cho đều biết sửa mình theo lễ, giữ đức dựa nhân, để thành người quân tử, không đến nỗi làm kẻ tiểu nhân. Bèn đem khắc in ra để công bố cho mọi người trong nước. Tôi từng trộm nghĩ: Người ta không ai không có nhân tâm, không ai không có đạo tâm, nhân tâm tức là nhân dục, đạo tâm tức là thiên lý. Giữ được một phần thiên lý thì bỏ được một phần nhân dục. Nhân dục thắng thì ác, thiên lý thắng thì thiện. Thánh huấn có 65 điều, đại yếu ở 8 chữ “mọi ác đừng làm, mọi thiện nên theo”. Làm điều thiện, gần thì báo ứng ngay cho mình, xa thì báo ứng đến cháu con. Trăm phúc đưa tới, nghìn lành nhóm lại, tức như ý Kinh Dịch nói: “Làm nhiều điều thiện tất thừa phúc lành”, ý Kinh Thư nói: “Làm thiện thì được trăm sự lành”. Nói về một nhà thì nhờ đó mà có thể được lành mạnh và hưởng phước lộc; nói về một nước, cho đến cả thiên hạ, thì nhờ đó mà có thể làm cho phong tục tốt, đưa đến cõi thái bình. Đạo lý ấy rất lớn, độc giả nên kính cẩn giữ lấy mà cố gắng làm theo.”

Vân đài loại ngữ, bốn quyển, Lê Quý Đôn soạn. Sách gồm chín đề mục, trong đó đề mục thứ nhất là Lý khí ngữ, gồm 54 điều về vũ trụ, vũ trụ luận; chủ yếu giải bày quan niệm của Tống Nho về vũ trụ luận, đồng thời có nhiều phát triển riêng của soạn giả.

Chu huấn toản yếu, năm quyển, do Phạm Nguyễn Du (1739-1787) đời Hậu Lê soạn. Ông tự Hiếu Đức và Dưỡng Hiên, hiệu Thạch Động, người làng Đặng Điền, huyện Chân Lộc (nay là Nghi Lộc), tỉnh Nghệ An. Làm quan, chức đông các đại học sĩ, rồi đốc đồng Nghệ An. Viết nhiều sách, riêng về đạo Nho còn có tác phẩm Luận ngữ ngu án… Khi soạn Chu huấn toản yếu ông mô phỏng theo sách Cận tư lục của Chu Hi và Lã Tổ Khiêm đời Tống, lấy toàn văn của Chu Hi chia thành loại, xếp thành tiết mục, tổng cộng hơn sáu trăm điều.

Xuân thu quản kiến, mười hai quyển do Ngô Thì Nhậm (1746-1803) đời Hậu Lê soạn. Ông là con của Ngô Thì Sĩ, tự Hi Doãn, hiệu Đạt Hiên và Hải Lượng Thiền sư, người làng Thanh Oai, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông. Làm quan, chức hiến sát phó sứ Hải Dương, rồi nhiều chức vụ quan trọng khác. Đời Tây Sơn làm quan thị lang, tước Tình phái hầu, làm chính sứ sang Trung Quốc. Viết nhiều sách. Trong Xuân thu quản kiến, dưới mỗi sự việc chép trong kinh Xuân thu của Khổng tử, soạn giả ghi rõ lời chú thích, trích trong các sách Tả truyện, Công Dương truyện, Cốc Lương truyện, Hồ truyện, Trình truyện rồi ghi thêm ý kiến và lời bàn của ông.

Nhân thế tu tri, tám quyển, do Cao Xuân Dục (1842-1923) đời Nguyễn soạn. Ông tự Tử Phát, hiệu Long Cương, quê xã Thịnh Kháng (sau là Thịnh Mỹ), huyện Đông Thành, tỉnh Nghệ An [có sách ghi: phủ Diễn Châu, tỉnh Nghệ Tĩnh]. Làm quan, chức thượng thư Bộ Học, tổng tài Sử quán, tước An xuân tử. Viết nhiều sách.

Nhắc đến ngũ luân (khuôn phép giữa vua tôi, cha con, vợ chồng, anh em, bè bạn) và thập nghĩa (mười lẽ phải gồm cha từ, con hiếu, anh lành, em kính, chồng nghĩa, vợ nghe theo, lớn huệ, bé thuận, vua nhân, tôi trung), trong bài Tựa năm 1901 cho Nhân thế tu tri có đoạn ông viết: “Đời người phải có ngũ luân, có thập nghĩa, thì trước hết làm ra các môn luân thường, môn phẩm hạnh. Đời người phải có mưu sinh, làm ăn, thì làm ra các môn thuật nghiệp, tố lý. Đời người phải có sửa mình, thu xếp việc nhà, thì làm ra các môn trị nhà, sửa xét mình. Đời người phải có tiếp xúc với người khác, thì làm ra các môn thù tiếp và thủ ngự để kết thúc toàn bộ sách. Vì vậy, nay vậy, nay tốt, tìm rộng trong các sách, lựa lọc trích lấy, chia môn, định loại, đem ra xếp đặt chú thích, tuy đến việc làm hung ác, cũng trích lấy một hai việc để mà khuyên răn.” Sách kể ra tám mươi sự việc xảy ra ở Trung Quốc và Việt Nam, nhằm khuyên làm lành tránh dữ.Có thể qua sách này tìm hiểu được triết lý đạo Nho ở Việt Nam trong một thời kỳ lịch sử nhất định.


([1])Xem mục Sơ lược tiểu sử tác giả và nhân vật ở cuối sách này.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s