e. Nhà nho tiêu biểu: Chu Văn An

Nhân nói về Nho giáo ở phần trên, chúng tôi xin được cung cấp thêm ở đây một vài thông tin về ngài Chu Văn An, một thầy giáo, một nhà nho tiêu biểu của nước ta để chư vị tham khảo. Phần giới thiệu về ngài mà chúng tôi nêu ra ở đây chẳng phải là vô căn cớ.

Trước hết, danh nho nước Việt nam ta trải đời này qua đời khác nhiều không kể xiết, nhưng để được tòng tự tại Văn Miếu thì chỉ có ba vị, và trong số đó chỉ có ngài Chu Văn An là được xếp lên trên cả .([1])

Ngoài ra, sử gia Phan Huy Chú trong bộ Lịch triều hiến chương loại chí phần Nhân vật chí – Các nhà nho có đức nghiệp, cũng xếp ngài Chu Văn An ở vị trí đầu tiên trong số các nhà nho có đức nghiệp của nước ta. Ở phần Lời án, sử gia Phan Huy Chú viết:

Ông Văn Trinh học nghiệp thuần túy, tiết tháo cao thượng, được thời ấy suy tôn, thời sau ngưỡng mộ. Tìm trong làng nho ở nước Việt ta, từ trước tới nay chỉ có mình ông, các ông khác thực không thể so sánh được”.

Như thế thì đủ biết đức độ và tài năng của ngài lớn đến bực nào.

Bởi thế, chúng tôi cũng biên vào đây phần giới thiệu về ngài để làm rõ thêm về một bậc “vạn thế sư biểu” của nước ta.

1.  Thân thế và sự nghiệp:

Ngài Chu Văn An (1292 – 1370) tên thật là Chu An, hiệu là Tiều Ẩn, tên chữ là Linh Triệt, là một nhà giáo, thầy thuốc, đại quan nhà Trần, được phong tước Văn Trinh Công nên đời sau quen gọi là Chu Văn An.

Sách Lịch triều hiến chương loại chí của nhà sử học Phan Huy Chú, phần Nhân vật chí, Mục Nhà Nho có đức nghiệp, chép rằng:

“Ông là người Thanh Đàm (nay là xã Quang Liệt, huyện Thanh Trì, Hà nội), tính cứng cỏi, sửa mình trong sạch, giữ vững tiết tháo, không cầu danh lợi, chỉ ở nhà đọc sách. Cái học của ông tinh túy, chân chính. Chỗ ở gọi là Văn Thôn. Ông dựng nhà trên gò lớn giữa đầm để dạy họ trò, xa gần nghe tiếng, đến học rất đông. Học trò ông làm nên khá nhiều, thường có người làm chức cao trong triều.

Trần Minh Tông cho ông có học vấn về chính đạo, gọi ra cho làm Tư nghiệp Quốc tử giám, dạy thái tử học. Đạo đức ông làm khuôn mẫu; đương thời ai cũng trọng.

Trần Dụ Tông chỉ thích vui chơi, trễ nải chính sự, bề tôi nhiều người không giữ phép, ông can không nghe, mới dâng sớ xin chém 7 người nịnh thần, đều là những kẻ quyền thế được vua yêu; người bấy giờ gọi là sớ “Thất trảm”. Sớ đệ vào không thấy trả lời, ông mới treo mũ từ quan về làng. Ông yêu phong cảnh núi Chí Linh bèn đến ở đấy, tự đặt tên hiệu là Tiều Ẩn. Khi có lễ hội triều lớn thì lại về Kinh. Dụ Tông giao cho coi chính sự, ông từ chối không nhận. Bà Thái hoàng thái hậu Hiến Từ (tức là bà của vua) nói: ”Bậc sỹ phu sửa minh trong sạch, dẫu thiên tử cũng không bắt làm bề tôi được. Sao có thể đem chính sự giao cho người ta?”. Vua sai nội thần mang áo đến ban cho, ông tạ ơn xong rồi đem cho người khác. Ai cũng khen cái phong độ của ông là cao thượng. Khi Dụ Tông mất, ngôi nhà Trần sắp tuyệt, nghe tin quần thần đón lập Nghệ Tông lên, ông rất mừng, chống gậy lên yết kiến. Rồi lại xin về làng. Phong chức gì cũng từ chối không nhận. Vua lấy lễ tôn kính, sai quần thần đưa về. Không bao lâu, ông chết ở nhà.

Về tư cách làm thầy của tiên sinh rất long trọng mà thái độ cứng cỏi, nghiêm trang, ngay như Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát đã làm chức Hành khiển cũng đều giữ lễ học trò; khi tới thăm hỏi còn lạy dưới giường, được cùng thày nói chuyện thì rất vui mừng. Nếu họ có điều gì không phải, ông trách mắng liền, có khi thét quở, không cho vào. Nghiêm nghị đáng sợ là như thế. Đức vọng của ông rất cao, các bậc công khanh đều hâm mộ.

Lúc ông làm chức Tư nghiệp, Băng Hồ Trần Nguyên Đán có bài thơ mừng rằng:

Hc hi hi lan tc tái thun,
Thường thường sơn đu đc tư nhân,
Cùng khinh bác s công phu đi,
Kính lão sung nho chính hoa tân,
B mit mang hài quy Hán nht,
Thương đâu bch phát dc Nghi xuân
Huân hoa ch thi thùy y tr,
Tranh đc Sào, Do tác ni thn.

Dịch:

Làm quay tr li làn sóng ca b hc ([2]) đ phong tc li thun hu
Nhà quc hc được ông làm bc thy như Thái Sơn, như sao Bc Đu
Hc rng khp c kinh s là công phu ln ca ông,
Kính người già, chung đo nho là chính hóa mi ca nhà vua
Ngày mà người mang bít tt vi, dép c v vi nhà Hán ([3])
Lúc mà bc tui già tm cái đo đc ca Khng T sông Nghi ([4]).
Nghiêu Thun ch là rũ áo đ tr thiên h.
Khó bt được Sào Ph, Ha Do làm b tôi cho mình.

Nơi ông ở là núi Phượng Hoàng, có suối, có đá, cảnh thanh nhã đẹp đẽ. Lúc rỗi ông đi dạo ở đường thông, ngâm vịnh tùy thích. Ông có quyển Tiều Ẩn tập lưu hành ở đời. Sau khi chết, Trần Nghệ Tông sai quan dụ tế, ban tên thụy là Văn Trinh. Về sau cho thờ trong Văn Miếu.

Lời án (lời bàn của Phan Huy Chú):  Ông Văn Trinh học nghiệp thuần túy, tiết tháo cao thượng, được thời ấy suy tôn, thời sau ngưỡng mộ. Tìm trong làng nho ở nước Việt ta, từ trước tới nay chỉ có mình ông, các ông khác thực không thể so sánh được. Nhưng không nên liệt riêng thành một mục đạo học. Nay đem sự tích ông chép lên đầu bậc danh nho, rồi tìm đến những người sau ông, gián hoặc cũng có người tiết tháo cao thượng, văn học được đời suy tôn, hoặc ra làm quan, hoặc đi ở ẩn mà đều nổi tiếng ở đời, thì đều chép cả sau đây, gọi chung là mục “Nhà Nho có đức nghiệp”. (hết lời trích)

Tại đền thờ ngài tại làng Huỳnh Cung, Thanh Trì, Hà nội, còn tấm bia ca tụng ngài do tiến sỹ Nguyễn Công Thể soạn. Toàn văn như sau:

“Ông họ Chu, tên tự là Viết An, người huyện Thanh Đàm. Xưa làm quan trải bốn đời vua Trần, sau được tặng tên thụy là Văn Trinh công. Theo lệnh vua ông được tôn thờ ở Văn miếu. Đó là ngôi đền thờ đặc biệt. Nay ở địa phương còn có di tích giảng đàn của ông. Trải các triều đế vương đều được gia phong đẳng trật. Tới nay vẫn được tôn thờ làm Phúc thần, trước có bia đá để ghi lại công tích của ông. Nhưng còn phải suy đi tính lại mãi về việc tìm chọn đá tốt về sửa sang mài nhẵn, nay thôn làng thờ phụng lại cần có văn tạc vào bia, kẻ hậu sinh tôi vinh hạnh cùng được dự vào việc của hàng huyện thì không dám lấy cớ ngu đần nông cạn để chối từ, vậy xin được chắp tay vái lậy soạn lời tựa cho bia. Thiết nghĩ cái quý giá của kẻ sĩ quân tử là chỗ cầu học và chuộng chí hướng để xả thân vì nghĩa mà không a dua với thói tục. Nếu bình luận về các nhà Nho của nước Việt ta thì duy chỉ có ông Văn Trinh là người không phải thẹn, đó là số mệnh đợi ông ấy. Ông luôn hư tâm, không màng danh lợi, đức hạnh của ông cao siêu nhường nào, sở học của ông chân chính uyên thâm làm sao, khiến cho người ta phải kính cẩn bái vọng suy làm tôn sư, mà đạo thầy càng uy nghiêm, đệ tử của ông rất nhiều người thành đạt. Ơn huệ và công lao của ông để lại cho nền tư văn phong phú vô cùng. Năm Khai Thái (1324-1329) đời vua Trần Minh Tông ông vào triều làm chức quan Tư nghiệp. Ông ở vào địa vị biểu trưng của tất cả những gì gọi là mực thước thánh mô hiền phạm cao siêu vời vợi để cho đám sĩ tử chiêm ngưỡng nghiêm cẩn. Tới niên hiệu Thiệu Phong (1344-1357) đời vua Trần Nhân Tông, ông dâng sớ chém đầu 7 tên lộng thần khiến cho lũ nịnh hót sợ thót con tim. Lời trung nghĩa ấy mới lẫm liệt hào hùng làm sao. Nhưng lời can ngăn không được vua nghe, tức thì ông treo mũ từ quan, bỏ về nơi nghìn trùng non xanh nước biếc, sớm chiều tiêu dao, nhắm mắt đưa chân mặc cho thế cục xoay vần, chính sự làm ngơ, gia phong sắc tặng (của triều đình) chẳng màng ngó. Đó chẳng phải là cái tên Văn Trinh đã phát ra lời răn đe cảnh tỉnh của thánh hiền từ xa xưa đó sao! Nếu không phải là ông thì còn có học giả nào xứng với danh hiệu Thái sơn liêm sỉ kia? Không phải ông thì là ai trong đám sĩ phu xứng với danh cột trụ về phẩm hạnh cao thượng đây? Tên thụy “Văn Trinh” quả không thẹn với lẽ đẹp ngàn năm thiên cổ phụng thờ đó ru? Khí tiết của ông sự nghiệp của ông sừng sững cao như ngọn núi Chí Linh, nó chảy dài mãi tựa dòng nước Thanh Đàm ở quê ông. Đền thờ linh thiêng của ông ở trên núi Chí Linh nó sẽ cao mãi tới cùng với đỉnh núi Chí Linh trong trời đất và nó sẽ phun ra dòng nước thơm chảy về hạ lưu muôn đời bất tận. Điều ấy chẳng phải đã có trong việc dựng bia đá xưa nay rồi sao! Nhưng mấy dòng chữ Lệ đen khắc vào đá cứng đây, cũng tức là để nói về đạo đức, về sự nghiệp, về thanh danh, về khí tiết rất hiển hiện, khiến cho người ta nhìn vào thì sinh lòng ngưỡng mộ, thì như trông thấy Thày – đó là sự sùng bái, là sự ngưỡng vọng: một là để khích lệ người ta mài dũa cái đức hạnh khiêm nhường; một là người ta tẩy rửa cái thói nghênh ngang. Dựng bia đá là sự mở mang giáo dục rất trọng đại, nên tôi làm bài ký này.

Kẻ hậu học, Ất Mùi khoa
Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân
Nghệ An đạo Giám sát Ngự sử người xã Kim Lũ
Nguyễn Công Thể kính soạn
Ngày 28 tháng 6 năm Vĩnh Thịnh 13 (1717) dựng bia.
Xã Cung Hoàng huyện nhà phụng thờ dựng bia”.

 Nguồn: Mai Hồng, Tiến sỹ Viện Nghiên cứu Hán Nôm, bài “Về tấm bia đền thờ Chu Văn An ở làng Huỳnh Cung, Thanh Trì, Hà nội”, đăng trên Thông báo Hán Nôm 2004  

Sự nghiệp của ngài được ghi lại trong văn bia ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám.

Câu đối thờ ngài:

Trn vãn th hà thi, dc vnh đi phi hin gi lc
Phượng sơn tn n x, trĩ lưu trường ngưỡng triết nhân phong

Dịch:

Cui đi Trn là thi nào, ngâm vnh rong chơi há chng phi là cái thú vui ca bc hin gi?
Núi Phượng vn còn du vết n, đnh non vn mãi mãi ngưỡng m phong thái ca k triết nhân

2.  Một số tác phẩm của ngài

  • Thất trảm sớ
  • Tiều ẩn thi tập
  • Tiều ẩn quốc ngữ thi tập
  • Tứ thư thuyết ước
  • Giang đình tác
  • Linh sơn tạp hứng
  • Miết trì
  • Nguyệt tịch bộ Tiên Du sơn tùng kính
  • Thứ vận tặng Thủy Vân đạo nhân
  • Xuân đán

 3.  Giai thoại

Tương truyền khi Chu Văn An mở trường dạy học ở quê nhà, có nhiều học trò tìm đến theo học. Trong số này có một người sáng nào cũng đến thật sớm nghe giảng. Thầy dạy khen là chăm chỉ nhưng không rõ tông tích ở đâu. ông bèn cho người dò xem thì cứ đến khu đầm Đại (khu đầm lớn hình vành khuyên, nằm giữa các làng Đại Từ, Tứ Kỳ, Huỳnh Cung) thì biến mất. Ông biết là thần nước. Gặp lúc đại hạn kéo dài, giảng bài xong ông tụ tập các trò lại hỏi xem ai có tài thì làm mưa giúp dân, giúp thầy. Người học trò kỳ lạ trước có vẻ ngần ngại, sau đứng ra xin nhận và nói với thầy: “Con vâng lời thầy là trái lệnh Thiên đình, nhưng con cứ làm để giúp dân. Mai kia nếu có chuyện gì không hay, mong thầy chu toàn cho”. Sau đó người này ra giữa sân lấy nghiên mài mực, ngửa mặt lên trời khấn và lấy bút thấm mực vẩy ra khắp nơi. Vẩy gần hết mực, lại tung cả nghiên lẫn bút lên trời. Lập tức mây đen kéo đến, trời đổ mưa một trận rất lớn. Đêm hôm ấy có tiếng sét và đến sáng thấy có thây thuồng luồng nổi lên ở đầm. Chu Văn An được tin khóc thương luyến tiếc rồi sai học trò làm lễ an táng, nhân dân các làng lân cận cũng đến giúp sức và sau nhớ công ơn bèn lập đền thờ. Nay vẫn còn dấu vết mộ thần. Theo truyền thuyết, chỗ nghiên mực bị ném rơi xuống biến thành đầm nước lúc nào cũng đen, nên thành tên là Đầm Mực. Quản bút rơi xuống làng Tả Thanh Oai biến làng này thành một làng văn học quê hương của Ngô Thì Sĩ, Ngô Thì Nhậm, v.v… Trong đền thờ thần còn đôi câu đối khá tiêu biểu ghi lại sự tích này.

Mc nghin khi tường vân, nht bút lc hi thiên t thun.
Chu đình lưu hóa vũ, thiên trù vng thiếp đa phn khô.

Dịch:

Mây lành t nghiên mc bay lên, mt ngn bút ra công tri thun theo l phi.
Mưa tt gia sân son đ xung, nghìn cánh đng đi nước, đt n tr mùa hoa

(Chu đình có hai nghĩa: sân son và sân họ Chu, ch Chu Văn An)


([1]) Người Việt được tòng tự tại Văn Miếu trước tiên có Chu Văn An (dưới triều vua Trần Nghệ Tông), sau có thêm Trương Hán Siêu và Đỗ Tử Bình. Đến thời Hậu Lê chỉ thừa nhận Chu Văn An là xứng đáng được thờ chung với Khổng Tử cho tới ngày nay (theo Di tích Văn Miếu Quốc Tử Giám, Trần Mạnh Thường, NXB Lao động Xã hội, 2008)

([2]) Nghĩa là chấn chỉnh cái đạo học đã suy đồi

([3]) Đời Hán có 4 cụ già không chịu ra làm quan, ẩn ở núi Thương Sơn; sau cùng về với nhà Hán, can Cao Tổ về việc đổi thái tử, rồi lại đi ẩn

([4]) Con sông ở quê hương của Khổng Tư, ý nói là nơi nguồn gốc của Nho học

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s