Một số nơi khác tại Việt nam có thờ Văn Xương

1.  Hà nội:

Sau khi tham khảo cuốn Chùa Hà nội của hai tác giả Nguyễn Thế Long và Phạm Mai Hùng, và cuốn Đình và Đền Hà nội của tác giả Nguyễn Thế Long, chúng tôi thấy, trong tổng số toàn bộ 130 ngôi chùa, 173 đình và đền hiện có trên địa bàn Hà nội thì chỉ Đền Ngọc Sơn và Quán Thánh là có thờ hoặc đã từng thờ đức Văn Xương Đế Quân.

Tuy nhiên, tác giả Lê Dư ([1]) trong cuốn Dấu tích Thăng Long cũng nói Chùa Tây Long có thờ đức Văn Xương Đế Quân. Nhưng chùa này không được nhắc đến trong hai cuốn sách kể trên. Vậy có thể suy luận rằng, chùa này nếu có thực thì hiện không còn nữa; mặc dù vậy, chúng tôi cũng giới thiệu trong phần dưới đây.

a. Quán Thánh

Quán Trấn Vũ, quen gọi là đền Quan Thánh do đọc chệch chữ Quán Thánh mà ra, nằm ở cuối đường Thanh Niên, nhìn thẳng ra hồ Tây. Quán được dựng vào thời Lý Thái Tổ mới dời đô đến Thăng Long, thờ Huyền Thiên Trấn Vũ ([2]), một vị thánh của đạo Giáo, để trấn giữ yêu quái ở phía Bắc kinh thành. Theo thuyết ngũ hành, phương bắc là phương Huyền Vũ, thuộc màu đen nên sắc phục của thần đều là màu đen.

Về việc thờ đức Văn Xương Đế Quân tại Quán Trấn Vũ, theo tác giả Nguyễn Thế Long trong cuốn Đình và Đền Hà nội thì Văn Xương Đế Quân là vị thánh của Đạo giáo, được thờ ở Trung Quốc. Đến đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497), Nguyễn Công Định đi sứ Trung Quốc đem tượng thánh về thờ chung với Huyền Thiên Trấn Vũ ở Trấn Vũ Quán. Đến năm 1843, Hội Hướng Thiện mới rước từ Trấn Vũ Quán về thờ ở đền Ngọc Sơn. Từ đó, quán không còn thờ đức Văn Xương Đế Quân.

Trước đây, khi quán còn thờ đức Văn Xương Đế Quân, có tục các nho sinh, sỹ tử thường đến lễ tại quán vào ngày 01 tháng 6 âm lịch, ngủ lại xin ứng mộng cho biết khoa thi này thi cử ra sao. Tục này bắt nguồn từ việc có truyện cho rằng đức Văn Xương Đế Quân giáng bút bảo rằng cứ ngày 1 tháng 6 âm lịch hàng năm sẽ ứng mộng cho sỹ tử đi thi được biết việc thi cử.

Quán được trùng tu lớn vào các năm 1677, 1893. Trước đây, tượng Huyền Thiên Trấn Vũ bằng gỗ bị mối mọt, đời Lê Hy Tông, cho đúc tượng bằng đồng đen (hun) cao 3,07m, nặng khoảng 4 tấn năm 1681, rồi lại xây bệ đá cao 1,2 m đặt tượng lên năm 1894. Tượng Trấn Vũ cao lớn, mặc áo đạo sĩ đen, xõa tóc, không đội mũ, chân đất, tay trái giơ lên bắt quyết, tay phải chống kiếm xuống lưng một con rùa, có rắn cuốn vòng quanh kiếm. Theo truyền thống, rắn và rùa là hai con vật tượng trương của thần trấn phương Bắc. Đây là một công trình nghệ thuật của thế kỷ 17. Ở gác tam quan có treo một quả chuông cao gần 1,5m đúc cùng thời với tượng Trấn Vũ.

Thần Huyền Thiên Trấn Vũ được thờ ở nhiều nơi, riêng Hà Nội ngoài Trấn Vũ quán ở Quán Thánh (Ba Đình) còn có đền Trấn Vũ ở Thạch Bàn (Gia Lâm), Huyền Thiên đại quán ở Thụy Lâm (Đông Anh) và Huyền Thiên cổ quán ở phường Đồng Xuân. Nhưng các địa điểm này không thờ Văn Xương Đế Quân.

b. Đền Ngọc Sơn

Đền Ngọc Sơn là một ngôi đền thờ nằm trên đảo Ngọc của hồ Hoàn Kiếm, Hà Nội. Dưới đây là một số thông tin tổng quan về đền Ngọc Sơn, một phần thông tin này được trích từ bài Câu đối, hoành phi và đề tự bằng chữ Hán ở đền Ngọc Sơn của Tuấn Nghi và Tảo Trang đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 1/1991:

Theo sách La Thành cổ tích vịnh của Trần Bá Lãm (1757 – 1815), hồ từng là nơi tập thủy quân dưới triều Trần, nên có tên là Đầm Thủy Quân. Lại theo sách Hoàng Việt địa dư chí của Phan Huy Chú (1782 – 1840), Lê Thái Tổ một hôm dạo chơi trên hồ, có con rùa lớn nổi lên, vua cầm gươm chỉ, rùa liền đớp lấy gươm lặn xuống nước, nên có tên là Hồ Hoàn Kiếm (Hồ trả lại thanh gươm vua được thần trao cho để đánh đuổi quân Minh xâm lược), gọi tắt là Kiếm Hồ (Hồ Gươm).

Sang thời Lê Trung Hưng, sau khi Chúa Trịnh lập phủ chúa ở phía Nam Tháp Báo Thiên (khu vực phố Nhà Chung hiện nay), một con đường đã được đắp từ Cửa Nam thành tới lầu Ngũ Long (khoảng Viện Bảo tàng lịch sử hiện nay), chia hồ thành 2 phần: nửa bên trái là Tả Vọng, nửa bên phải là Hữu Vọng (“Vọng” ở đây có nghĩa là nhìn về phủ chúa). Hồ Hữu Vọng về sau bị lấp dần, dấu vết còn lại là phố Vọng Đức (tên một thôn của thế kỷ XIX, do 2 thôn Hữu Vọng và Đức Bác hợp nhất mà thành). Còn Hồ Tả Vọng tức phần Hồ Gươm còn lại đến ngày nay.

Phía tây bắc Hồ Tả Vọng có một gò đất tên là Tượng Nhĩ Sơn (núi tai voi). Lý Thái Tổ sau khi định đô ở Thăng Long (1010) đổi tên gò là Ngọc Tượng Sơn (núi Voi Ngọc), và tới đời Trần, gọi tắt là Ngọc Sơn (núi Ngọc). Lúc này trên gò đảo đã có một ngôi chùa nhỏ, nhưng lâu ngày thành xiêu vẹo. Đến đời Lê Vĩnh Hựu (1735 – 1739), chúa Trịnh Giang dựng lên cung Khánh Thụy ở đây và đắp hai quả núi phía đông, đối diện với Ngọc Sơn, gọi là Ngọc Bội và Đào Tai để kỷ niệm chiến thắng năm 1751 của Trịnh Doanh bắt được Nguyễn Danh Phương, một lãnh tụ nông dân khởi nghĩa.

Cuối đời Lê, cung Khánh Thụy bị Lê Chiêu Thống đốt trụi. Một nhà từ thiện người làng Nhị Khê tên là Tín Trai nhân nền cung cũ, lập ra một ngôi chùa gọi là Ngọc Sơn tự (chùa Ngọc Sơn). Chùa lúc này có cả tam quan và gác chuông.

Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), con ông Tín Trai đem chùa nhường cho Hội Hướng Thiện để trùng tu, dỡ bỏ gác chuông, xây lại các gian đền chính và các dãy phòng hai bên, quy mô to lớn. Chùa đã thành đền, mới đầu thờ thần Văn Xương (rước từ Quán Trấn Vũ sang), sau thành đền “Tam thánh”, thờ 3 vị: Văn Xương, Quan Vũ và Lã Động Tân. Một thời gian sau thờ thêm Trần Hưng Đạo. Năm Tự Đức 18 (1865), Nguyễn Văn Siêu đứng ra tổ chức quyên góp để tu tạo di tích Ngọc Sơn, xây đình Trấn Ba, cầu Thê Húc, Tháp bút, Đài nghiên… Từ đó đến nay, đền cơ bản vẫn giữ bộ mặt tu tạo thời Nguyễn Văn Siêu, tất nhiên là có bị hư hỏng, mất mát đi một số chi tiết.

Bài kí “Đền Ngọc Sơn đế quân” được soạn năm 1843 có viết : “…Hồ Tả Vọng tên cũ gọi hồ Hoàn Kiếm là một danh thắng đất Kinh kỳ xưa. Phía bắc mặt hồ, một gò đất nổi lên rộng khoảng ba bốn sào, tương truyền là chỗ đài câu cá thời cuối Lê. Trước đây, ông Tín Trai làng Nhị Khê nhân có đền Quan Đế tại đấy bèn mở rộng sửa sang thêm gọi là chùa Ngọc Sơn…“.

Cấu trúc đền hiện nay chia làm ba lớp gồm nhà đại bái, trung cung, và hậu cung. Đầu tiên là lớp nhà đại bái rộng rãi; tiếp đến là Trung cung, tại đây có tượng đức Văn Xương Đế Quân ngồi chính giữa ở phía sau cùng, phía trước có tượng Lã Tổ (Lã Động Tân), một trong ba vị tổ của Đạo giáo ([3]), phía trước tượng Lã Tổ là tượng Quan Thánh Đế nhỏ hơn; hai bên có tượng thần Thiên Khôi (bên trái) và thần Thiên Việt (bên phải), Quan Bình (bên trái) và Chu Thương (bên phải); sau cùng là Hậu cung, nơi thờ Đức Thánh Trần cùng bài vị Trần triều thượng phụ Hưng Đạo Đại Vương ở bên trái và Sơn thần Thổ địa ở bên phải. Chúng tôi có cung cấp sơ đồ các vị trí thờ của đền Ngọc Sơn tại Phần Hai của sách này.

c. Chùa Tây Long

Nhà nghiên cứu Lê Dư (1885? – 1957) viết về chùa Tây Long trong cuốn Hà Thành kim tích khảo và cuốn Du Cổ Loa thành ký (do dịch giả Hồ Viên dịch và đặt tên chung là Dấu tích Thăng Long, NXB Lao động, 2007) như sau:

“Chùa Tây Long ở thôn Thượng, bờ nam Cơ Xá, là chỗ đất cung Tây Long đời Lê. Năm Bính Ngọ (1786), binh Tây Sơn nổi dậy, cung Tây Long bị thiêu hủy. Năm Gia Long thứ 13 (1814), kỳ lão và vị sư trong ấp nhân chỗ nền ấy mà dựng chùa thờ Phật, lấy tên là Tây Long, bên trái thờ Văn Xương Đế Quân, bên phải thờ Liễu Hạnh Công chúa”.

Về địa danh Cơ Xá, chúng tôi đã tham khảo bài viết “An Xá – Cơ Xá – Phúc Xá, lịch sử một tên làng gắn với lịch sử Thăng Long” của tác giả Nguyễn Xuân Hòa, tiến sỹ Hội ngôn ngữ học Hà nội, và tác giả Nguyễn Hữu Tưởng, Viện nghiên cứu Hán Nôm, đăng trên Thông báo Hán Nôm 2002 và được biết địa danh Cơ Xá mà nhà nghiên cứu Lê Dư nói đến chính là khu vực Phúc Xá, Hà nội hiện nay. Ngoài ra, tác giả Nguyễn Văn Âu trong cuốn Bàn về địa danh học (NXB Đại học Quốc gia Hà nội, 2008) cũng cho thông tin tương tự.

Nhưng tham khảo cuốn Chùa Hà nội (NXB Văn hóa Thông tin, 2005) của hai tác giả Nguyễn Thế Long và Phạm Mai Hùng, cũng như cuốn Đình và Đền Hà nội (NXB Văn hóa Thông tin, 2005) của tác Nguyễn Thế Long, chúng tôi thấy trong số 130 ngôi chùa và 173 ngôi đình và đền Hà nội được nêu chi tiết thì không thấy tên cũng như không thấy có địa điểm nào có thông tin tương tự như nhà nghiên cứu Lê Dư đã viết.

Vậy phải chăng, nếu chùa Tây Long là có thực như nhà nghiên cứu Lê Dư viết, thì chùa này hiện không còn nữa ?

d. Đền Thánh Văn Xương (huyện Hoàn Long, Hà Đông cũ)

Trong cuốn Người Việt nam với Đạo giáo (NXB Khoa học Xã hội, 2003), Phó giáo sư sử học Nguyễn Duy Hinh dẫn sách Đại Nam nhất thống chí cho biết, trong số các đạo quán của Đạo giáo có ghi trong sách này thì tại làng Hoàng Mai, huyện Hoàn Long, tỉnh Hà Đông cũ có ngôi đền thờ đức Văn Xương Đế Quân cùng Quan Thánh Đế Quân.

Nhưng chúng tôi cũng tham khảo bộ sách Đại Nam nhất thống chí (bản do Viện Sử học – Viện Khoa học Xã hội ấn hành, NXB Thuận Hóa in năm 2006, tái bản lần thứ hai) thì không thấy nói đến ngôi đền này. Có thể đây là do có sự khác nhau giữa hai bản sách vì thực chất Đại Nam nhất thống chí có nhiều bản.

Chúng tôi hiện chưa có điều kiện tìm hiểu xem ngôi đền này thực chất là có hay không, và nếu có thì hiện có còn không, và nếu còn thì nằm ở đâu.

2.  Thành phố Hồ Chí Minh

Dưới đây là một số địa điểm tại thành phố Hồ Chí Minh có thờ thánh Văn Xương. Tuy nhiên, có thể thấy các địa điểm này hầu hết là chùa, chứ không phải các địa điểm thuộc Đạo giáo:

  1. Chùa VẠN PHẬT
    Địa chỉ : 66/14 Nghĩa Thục -P.5- Q.5
  2. Chùa TỪ ĐỨC
    Địa chỉ : 100/4C Hùng Vương – P.9-Q.5
  3. Chùa BỬU PHƯỚC
    Địa chỉ : 142 Phạm Hữu Chí -P.15-Q.5
  4. Chùa NAM PHỔ ĐÀ
    Địa chỉ : 117 Hùng Vương – P.6-Q.6
  5. Chùa THIÊN Ý
    Địa chỉ : 135/95 Hùng Vương – P.6-Q.6
  6. Chùa THIÊN KHÁNH
    Địa chỉ : 551/24 Phạm Văn Chí – P.7-Q.6
  7. Chùa LIÊN HOA
    Địa chỉ : 361 Lê Quang Sung – P.9-Q.6
  8. QUAN ÂM Cổ Miếu
    Địa chỉ : 125/5 Nguyễn Phạm Tuân -P.9-Q.6
  9. Chùa DIỆU PHÁP
    Địa chỉ : 925/10 Hậu Giang – P.11-Q.6
  10. NGUYÊN SƠN Cổ Tự
    Địa chỉ : 415-416-417 Ba Đình-P.10-Q.8
  11. Chùa PHÁP BỬU
    Địa chỉ : 20/19 Bến Mễ Cốc -P.15-Q.8
  12. Chùa PHỤNG SƠN
    Địa chỉ : 285 Ngô Gia Tự -P.3-Q.10
  13. Chùa LINH QUANG
    Địa chỉ : 1486 Ba Tháng Hai – P.2-Q.11
  14. Chùa QUAN ÂM
    Địa chỉ : 109/1i Lạc Long Quân – P.3-Q.11
  15. LIÊN HOA Cổ Tự
    Địa chỉ : 18E-18F Lý Nam Đế – P.7-Q.11
  16. Chùa LIÊN HOA
    Địa chỉ : 236/31/4 Thái Phiên – P.8-Q.11
  17. Chùa BỬU ÂM
    Địa chỉ : 594 Hồng Bàng – P.16-Q.11
  18. Chùa TỪ ÂN
    Địa chỉ : 440-442 Hồng Bàng – P.16-Q.11
  19. Chùa ÂN PHƯỚC
    Địa chỉ: 477/42 Nơ Trang Long – P.13-Q. Bình Thạnh
  20. Chùa QUAN ÂM
    Địa chỉ : 125/13/7 Lũy Bán Bích – Q. Tân Phú
  21. Chùa QUAN ÂM
    Địa chỉ : 14/4 Kha Vạn Cân, Khu Phố 6 – P. Linh Đông- Q. Thủ Đức
  22. Chùa PHỤNG SƠN
    Địa chỉ: 338 – 340 Nguyễn Công Trứ – P. Nguyễn Thái Bình -Q.1
  23. Chùa BÀ THIÊN HẬU (Chùa Bà)
    Địa chỉ: 122 Bến Chương Dương – P. Cầu Ông Lãnh – Q.1
  24. Chùa Ông (tên chính thức là Miếu Quan Đế)
    Địa chỉ: 676 đường Nguyễn Trãi, Q.5

3.  Một số địa phương khác

a. Đền Tử Đồng Đế Quân trên núi Hoàng Xá (Quốc Oai)

Dưới đây chúng tôi trích giới thiệu một vài thông tin liên quan đến đền Tử Đồng Đế Quân trên núi Hoàng Xá, huyện Quốc Oai, Hà Tây (nay là Hà nội). Đây là các thông tin chúng tôi đã cung cấp ở phần giới thiệu về đức Văn Xương Đế Quân, có bổ sung thêm một vài nhận xét:

Sách Lịch triều hiến chương loại chí của nhà sử học Phan Huy Chú, mục Dư địa chí, Phủ Quốc Oai có ghi tóm tắt như sau:

“Núi Hoàng Xá ở huyện Yên Sơn (huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây cũ, nay là Hà nội): ngọn núi đứng một mình cao chót vót, cảnh trí âm u thanh nhã, trên núi có đền Văn Xương Đế Quân, vẫn có tiếng là linh ứng”.

Sách Đại Nam nhất thống chí, quyển XXI, viết về tỉnh Sơn Tây, có ghi:

“Đền Tử Đồng Đế Quân ở sơn phận xã Hoàng Xá huyện Yên Sơn (tức huyện Quốc Oai ngày nay). Thần họ Trương, húy là A (hoặc Á), người Việt ([4]), sinh ở đời Tấn (265-420), sau dời đến ở đất Tử Đồng thuộc Thục quận. Lúc trẻ thi đỗ, là danh sư đất Thục. Sau khi mất, học trò lập đền thờ, đề là “Văn xương từ”. Khi Đường Minh Hoàng tránh giặc (An Lộc Sơn) chạy vào đất Thục, thần hiển linh giúp sức. Giặc yên, tấn phong vương hiệu, sau gia phong Đế hiệu. Đời Lê Hồng Đức (1470-1497), Thượng thư Nguyễn Địch Tâm (quê làng Hoàng Xá, Quốc Oai, Hà Tây) sang sứ Trung Quốc xin được tượng thần đem về lập đền thờ ở xã Hoàng Xá. Về sau, học trò đi thi, đến cầu báo mộng thường được ứng nghiệm. Bản triều năm Thiệu Trị thứ 6 (1846) phong Thượng đẳng thần”.

Trong bài “Một vài từ Hán có ý nghĩa tôn giáo sâu xa tại đền Ngọc Sơn”, đăng trên Tạp chí Hán Nôm số 1/1998, tác giả Hoàng Giáp viết:

“Trong cuốn Trấn Vũ quán lục, Thanh Hòa Tử chép: Vào năm Quang Thuận triều Lê Thánh Tông (1460 – 1469) Nguyễn Công người làng Hoàng Xá huyện Yên Sơn, tỉnh Sơn Tây (Hà Tây) đi sứ Trung Quốc qua đền Văn Xương Đế Quân đem tượng Đế Quân về thờ tại Trấn Vũ quán Hà Nội. Sau đó lại đem tượng thần về quê lập đền phụng thờ”.

Tác giả Nguyễn Thế Long trong cuốn Đình và Đền Hà nội viết:

“Văn Xương Đế Quân là vị thánh của Đạo giáo, được thờ ở Trung Quốc. Đến đời vua Lê Thánh Tông (1460-1497), Nguyễn Công Định đi sứ Trung Quốc đem tượng thánh về thờ chung với Huyền Thiên Trấn Vũ ở Trấn Vũ Quán (Quán Thánh). Đến năm 1843, Hội Hướng Thiện mới rước từ Trấn Vũ Quán về thờ ở đền Ngọc Sơn”.

Ngoài ra, trong Truyện truyền kỳ Việt nam (Nguyễn Thành Long và Nguyễn Thái Bình sưu tầm và tuyển chọn, NXB Thuận Hóa 1999) có truyện Đền Trấn Võ, trong đó nói đến việc rước thần Tử Đồng từ Trung Quốc về thờ tại đền Trấn Võ và đền Tử Đồng Đế Quân trên núi Hoàng Xá. Vì là truyện truyền kỳ nên mang nhiều tính huyền ảo, xin trích một phần dưới đây:

“Quan Thượng Mỗ người làng Hoàng Xá khi đi sứ Trung Hoa có rước pho tượng Tử Đồng Đế Quân về nước tạm đặt ở tiền đường đền Trấn Võ, sau lại thiên lên đỉnh núi Hoàng Xá. Rồi thấy đức Tử Đồng giáng bút nói rằng: “An Nam là nước văn hiến, ta sẽ lấy những ngày 1 tháng 6 ứng mộng cho các học trò. Nguyên tượng thì phải trả về Trung Hoa”.

Chợt thấy có thuyền của người Trung Hoa sang, đi tìm hỏi pho tượng ấy. Quan Thượng cho trả về, rồi ở chỗ di tích, tạc tượng mới thờ phụng. Nay ở trước đền Trấn Võ, về bên phía tả, pho tượng đội mũ phốc đầu mặc áo bổ phục, chính là pho tượng ấy. Gặp năm có khoa thi hội, sỹ tử bốn phương nhiều người tắm gội ăn chay sạch sẽ, đến đền cầu mộng, báo ứng rất nghiệm. Tại đền trên núi Hoàng Xá cũng vậy”.

Tên gọi tại địa phương của ngôi đền này cũng là đền Thượng. Chúng tôi đã tới viếng thăm đền và thấy rằng cụ Phan Huy Chú chẳng nói quá lời. Ngôi đền tọa lạc tại một vị trí thật đẹp, cao trên một trong các đỉnh của núi Hoàng Xá, xa phía trước là dải đồi Đồng Lư, còn che ngay trước đền là một trong các ngọn khác của núi Hoàng Xá. Có đường bậc thang tạc trực tiếp vào đá núi dẫn lên đền. Cảnh trí thanh nhã. Quả đúng như vậy.

Trong đền thờ tượng Tử Đồng Đế Quân ở ban chính. Ban thờ bên trái thờ hai vị, chúng tôi cũng chưa có điều kiện tìm hiểu xem đó là hai vị nào. Ban thờ bên phải không thờ tượng, nhưng có một tấm bia đá, nhưng vì không có kiến thức Hán văn nên không biết nội dung, có thể là bia ghi công đức của các vị có công xây dựng hoặc tu bổ ngôi đền, giống như ban thờ tiên tổ công đức của đền Thượng thôn Thụy Khuê.

Ngôi đền thuộc quyền quản lý của Ban quản lý di tích Hoàng Xá. Ngôi đền hiện đang xuống cấp nghiêm trọng. Mặc dù người của Ban quản lý khu di tích cho biết là có nhiều người thường tới viếng thăm đền nhưng chúng tôi cảm nhận thấy không khí trong đền lạnh lẽo, dường như có ít người hương khói. Chuyện trò với người trông coi khu di tích thì đáng tiếc là cả người này cũng không biết ngôi đền thờ ai. Nhưng lại thấy vui khi được biết nhà nước đang có kế hoạch tu bổ lại ngôi đền trong nay mai. Nếu thông tin này là đúng thì quả là điều đáng làm.

b. Linh Tiên Quán (Hoài Đức)

(Theo “Người Việt nam với Đạo giáo” của Nguyễn Duy Hinh)

Linh Tiên Quán nằm ở thôn Cao Xá Thượng, xã Đức Thượng, huyện Hoài Đức, tỉnh Hà Tây cũ (nay là Hà nội). Tuy biển đề là Linh Tiên Quán nhưng nhân dân thường gọi là chùa Linh Tiên mặc dù thần điện có thờ cả tượng Đạo giáo, Phật giáo, Không giáo. Phật giáo có tượng Quan Âm Chuẩn Đề, tượng Cửu Long. Khổng giáo có tượng Khổng Tử.

Thần điện chia thành ba bậc rõ rệt, gồm thượng, trung, hạ.

Thượng điện là Tam Thanh Điện với ba pho tượng lớn: Đạo Đức Thiên Tôn – Nguyên Thủy Thiên Tôn – Linh Bảo Thiên Tôn. Hàng thứ hai gồm Phạm Thiên. Hàng thứ ba là Khổng Tử – Đế Thích – Văn Xương – Cửu Thiên Huyền Nữ và các tượng Đẩu Mẫu, Phong Lôi Vũ Điện. Sát tường bên phải đặt các tượng Mạc Ngọc Liễn và Mạc Ngọc Lâm, Trần Hưng Đạo, Quan Đế.

Trung điện và hạ điện còn nhiều tượng của cả Đạo giáo và Phật giáo. Tổng cộng số tượng thờ tại Linh Tiên Quán là 75 pho, nhiều nhất trong tất cả các đạo quán còn lại ở nước ta.

Điểm đặc biệt là tại quán có sa huyệt (huyệt khai thác đan sa dùng để luyện linh đan), đã bị xây gạch chặn và lấp, hiện chỉ còn rộng 60 cm đường kính, sâu khoảng 1m, nằm phía dưới bàn thờ Cửu Thiên Huyền Nữ. Theo người dân địa phương kể thì trước đây huyệt này thông với con sông gần đó, thả một quả bưởi vào huyệt thì sẽ trôi ra sông.

Như vậy, Linh Tiên Quán là quán Đạo giáo có thờ Văn Xương Đế Quân và Quan Thánh Đế Quân, nhưng chỉ là phối thờ.

c. Văn Hiến Đường tại làngHạ Mỗ (Đan Phượng)

Văn Hiến Đường xưa kia là Văn chỉ thờ Không Tử; năm Duy Tân thứ hai (1908)  sau lễ giáng bút tại chùa Hải Giác (Đinh Mùi – 1907) các nho sĩ và nhân dân Hạ Mỗ tiến hành sửa sang, quy hoạch lại thành đền Văn Hiến ngày nay. Đền Văn Hiến thờ Khổng Tử, Tam Thánh gồm Văn Xương đế quân, Quan Thánh đế quân, Phù Hựu đế quân (Lã Tổ), và hai vị đại hiền của làng Hạ Mỗ là Thái Úy Tô Hiến Thành và quan nghè Đỗ Trí Trung, nhưng nhân dân vẫn quen gọi là đền thờ Đức Thánh Tô (Tô Hiến Thành).

(Phát biểu của ông Nguyễn Quý Đào, Chủ tịch xã Hạ Mỗ trong lễ Kỷ niệm 909 năm ngày sinh danh nhân Tô Hiến Thành tại Văn Hiến Đường, ngày 24 – 2 – 2011).

Trong thời gian diễn ra phong trào thiện đàn, khuyến thiện, chấn hưng văn hóa dân tộc, tại đây đã từng tổ chức nhiều thiện đàn, in ấn và phổ biến nhiều văn bản kinh sách mang nội dung khuyến thiện, truyền bá văn hóa truyền thống, và khích lệ lòng yêu nước thương nòi.

Hiện tại đây còn đôi câu đối:

Kinh điển bản tàng Tiên hiền giáng bút thuỳ kinh điển
Cổ kim truyền lục Vãng thánh di thư diệu cổ kim
 
Dịch nghĩa:
Kinh điển bản khắc Tiên hiền giáng bút còn lưu truyền kinh điển
Cổ kim truyền lục Thánh hiền di cảo sáng cổ kim
 

Cổ kim truyền lục chính là tên bộ sách tập hợp gần 400 bài thơ sau gần 4 tháng giáng bút, gộp thành 4 tập Nguyên – Hanh – Lợi – Trinh. Ngoài ra, nơi đây vẫn còn 14 tên sách / bộ sách Hán Nôm như: Thiên ất chân kinh (in, Bảo Đại 8), Văn Xương đế quân cứu kiếp bảo sinh kinh (in, 1911), Ngọc Hoàng chân kinh (viết tay), Ngọc Hoàng phổ độ tôn kinh (2 bản in, Bảo Đại 8), Liệt thánh bảo cáo (in), Ngũ phúc kinh. Tập Ninh (in), Tâm pháp thiết yếu chân kinh (2 bản in, Bảo Đại Mậu Thìn), Bảo huấn hợp thiên (in, Tự Đức Bính Tý), Lã Tổ trung hiếu cáo (in, Thành Thái ất Tỵ), Dược sư kinh,…

(Văn thơ Nôm giáng bút với việc kêu gọi lòng yêu nước và chấn hưng văn hoá dân tộc cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Thạc sĩ Nguyễn Xuân Diện, Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hôi nghị Quốc tế về chữ Nôm, ngày 12-13 tháng 11 năm 2004, tại Thư viện Quốc gia Việt Nam – Hà Nội)

d. Văn Thánh Miếu Vĩnh Long và Văn Xương Các

(Theo Bách khoa toàn thư mở wikipedia, “Cổng thông tin điện tử Vĩnh Long”, “Trung tâm Tri thức và Cộng đồng học tập Việt nam”, và bài “Văn Xương Các – Biểu tượng văn học vùng đồng bằng sông Cửu Long” của tác giả Lê Cần Thơ)

Văn Thánh Miếu Vĩnh Long cùng với Văn Thánh Miếu Biên Hòa (thuộc tỉnh Đồng Nai), Văn Thánh Miếu Gia Định, là ba Văn Thánh Miếu của vùng đất Nam Bộ có từ thế kỷ 19 được xây dựng nhằm đề cao Nho giáo.

Lịch sử

Văn Thánh Miếu Vĩnh Long tọa lạc trên một sở đất rộng, cặp bên bờ sông Long Hồ thuộc làng Long Hồ, tổng Long An, huyện Vĩnh Bình, nay thuộc phường 4, thành phố Vĩnh Long. Người chủ xướng xây dựng công trình này là Phan Thanh Giản và đốc học Nguyễn Thông. Công trình Văn Thánh Miếu xây dựng hết hai năm từ Giáp Tý 1864 (10 tháng 10 năm 1864) đến Bính Dần 1866.

Văn bia số 1 tại Văn Thánh Miếu Vĩnh Long cho biết:

Năm Kỷ Mùi, Tự Đức thứ 12 (1859), Gia Định, Biên Hòa, Định Tường nối nhau thất thủ, sĩ phu 3 tỉnh tỵ địa qua bản tỉnh (ý nói Vĩnh Long) và các hạt An Giang, Hà Tiên. Lúc bấy giờ binh mã bận rộn, sĩ tử mang bút tòng quân, việc học bỏ bê. Năm Tự Đức thứ 15 (1862), đốc học Nguyễn Thông họp các thân hào nhân sĩ bàn việc ấy, chọn đất ở địa phận thôn Long Hồ, cách tỉnh thành hơn 2 dặm về hướng Đông Nam, phía trước sông dài, phía sau là gò cao, hai bên vườn tược…Tháng 11 năm Tự Đức thứ 17 (1864) khởi công, tháng 9 năm nay hoàn thành (năm Bính dần, 1866)

Tuy trên danh nghĩa là đề cao Nho giáo, nhưng thực chất đây là một tụ điểm hoạt động văn hóa đề cao các bậc tiền hiền và giáo dục lòng yêu nước. Thế nhưng chỉ có mấy tháng sau, quân Pháp lại đem chiến thuyền uy hiếp và chiếm thành Vĩnh Long lần thứ hai, Phan Thanh Giản tuẫn tiết, Nguyễn Thông tỵ địa ra Bình Thuận, Pháp lấy cớ thiếu gỗ xây dựng dinh tham biện (dinh tỉnh trưởng) có ý định phá bỏ Văn Thánh Miếu. Lúc đó ông Bá hộ Trương Ngọc Lang (tức Bá hộ Nọn – người Minh Hương) được đồng bào đề cử đứng ra ngăn cản. Nhờ vậy công trình văn hóa này mới tồn tại đến hôm nay.

Kiến trúc Văn Thánh Miếu

Cận bên đường lộ là cổng tam quan xây theo lối cổ lâu có ba tầng mái. Cổng này đơn giản nhưng mỹ thuật (ảnh trên cùng). Sau cổng là thần đạo đi thẳng vào điện Đại Thành. Hai bên là hai hàng sao cao vút có cùng niên đại với ngôi Thánh Miếu, giữa thần đạo là ba tấm bia đá.

  • Tấm bia số 1 với trước tác của Phan Thanh Giản trước khi tuẫn tiết (1867).
  • Tấm bia số 2 dựng để kỷ niệm Tống Hữu Định và giới trí thức trong cuộc trùng tu ngôi miếu lần 2 (1903).
  • Tấm bia số 3 dựng năm 1931, với di chúc của Trương Thị Loan (con gái của Trương Ngọc Lang), người đã hiến đất cho miếu.

Hai tấm bia sau do Nguyễn Liên Phong (tác giả Nam Kỳ phong tục diễn ca) viết vào thập niên đầu của thế kỷ 20.

Cuối đường thần đạo là Điện Đại Thành. Bên trong, nơi chính điện thờ Khổng Tử, hai bên (Tả ban, Hữu ban) thờ  Tứ Phối, Thập nhị triết. Bên ngoài điện Đại Thành có hai miếu nhỏ (Tả vu, Hữu vu) thờ Thất thập nhị hiền. Trong khuôn viên Văn Thánh Miếu còn có hai ao nhỏ trồng sen, tên là hồ Nhật Tinh, hồ Nguyệt Anh và một công trình kiến trúc nhỏ và đẹp gọi là Văn Xương Các.

Văn Xương Các

Văn Xương Các hay còn gọi là Tụy Văn Lâu là một công trình nhỏ và đẹp nằm bên phải lối thần đạo, trong khuôn viên rộng rãi của Văn Thánh miếu Vĩnh Long.

Lúc xây Văn Thánh Miếu Vĩnh Long, ý của Phan Thanh Giản đã muốn xây thêm một thơ lầu phía bên tả Văn Thánh Miếu. Thế nhưng, vì Pháp đến đánh chiếm và ông Phan tử tiết, nên công việc đành bị dở dang. Năm 1869, Trương Ngọc Lang đứng ra quyên tiền để xây một cái lầu, theo ý định của ông Phan.

Website của chính quyền tỉnh Vĩnh Long, viết:

Sau khi Phan Thanh Giản tuẫn tiết, các con của Phan Thanh Giản vào bưng biền kháng chiến chống giặc; những người Minh Hương, đứng đầu là bá hộ Trương Ngọc Lang đã lập sổ quyên tiền xây dựng một “Tân Đình” (1869) phía tả Văn Thánh Miếu để thờ Phan Thanh Giản. Năm 1872 công trình này hoàn thành, Trương Ngọc Lang dựng bia đặt tên là Tụy Văn Lâu (lầu nhóm họp giới văn nhân tài tử). Tụy Văn Lâu được trùng tu năm 1914 và khoảng năm 1920 – 1923 được đổi tên là Văn Xương Các (gác Văn Xương)

Văn Xương Các làm theo kiểu trùng thềm điệp ốc. Trên gác là nơi cất sách và thờ ba vị Văn Xương gồm:

Cửu thiên Khai hoá Văn Xương Tử Đồng Đế Quân (ở giữa).
Cửu thiên Tuyên hoá Văn Xương Khôi Đẩu Tinh Quân (bên trái).
Cửu thiên Dương hoá Văn Xương Kim Giáp Tinh Quân (bên phải).
 

Tầng dưới Văn Xương Các mới là nơi quan trọng nhất, gian giữa là nơi văn nhân thi ngồi đàm đạo, phía sau là khánh thờ. Khánh thờ này chạm trổ tinh vi, trong đặt hai bài vị, có câu đối ca tụng hai kẻ sĩ đứng đầu đất Gia Định là Võ Trường Toản và Phan Thanh Giản:

Hoàng phong xử sĩ thanh cao lão
Tự hiệu thơ sanh tiết liệt thần
 
Dịch nghĩa:
Vua phong “Sử sĩ” thanh cao lão
Tự hiệu “ thư sinh” tiết liệt thần
 

Câu trên nói về cụ Võ Trường Toản được vua Gia Long phong là “Sùng Ðức xử sĩ”. Cụ là một ông thầy thanh cao của xứ Gia Ðịnh, đã đào tạo nhiều nhân tài tên tuổi như Trịnh Hoài Ðức, Lê Quang Ðịnh, Ngô Nhân Tĩnh… Khi 3 tỉnh miền Ðông bị Pháp chiếm đóng, Phan Thanh Giản và Nguyễn Thông bốc mộ cụ từ Gia Ðịnh về di táng ở Bến Tre và đem bài vị thờ ở Văn Xương Các.

Câu sau nói về cụ Phan Thanh Giản, một Kinh lược đại thần tự sát khi mất thành Vĩnh Long và khiêm tốn dặn dò con cháu đề bia mộ “Người học trò già họ Phan”.

Bên trong Văn Xương Các có các câu đối tiêu biểu:

Công cán tam triều cảnh cảnh điền mô chiêu á thánh,
Ðức tùy bách tánh dương dương tiết liệt sắc phong thần.
Ðức hạnh văn chương chiêu Thánh giáo,
Thông minh tài liệu dũ Nho phong.
 

Ông Cao Minh Dũng dịch:

Ba triều công nghiệp, khuôn mẫu chói chang theo gương á thánh,
Trăm họ ơn đức, khí tiết mênh mông đáng được phong thần.
Văn chương đức hạnh noi gương bậc Thánh,
Phẩm chất thông sáng giữ dáng nhà Nho.
 

Kề bên Văn Xương Các vẫn còn hai khẩu súng thần công đại bác, tương truyền là súng đã dùng để bảo vệ thành Vĩnh Long từ năm 1860.

Chúng tôi đã có dịp tới Vĩnh Long và ghé thăm Văn Thánh Miếu và Văn Xương Các. Cảm nhận chung của chúng tôi khi thăm Văn Xương Các là buồn vui lẫn lộn. Từ tầng dưới của Văn Xương Các leo theo một cầu thang nhỏ dựng đứng, chật chội, và khó xoay xở, là tới tới tầng 2 nơi thờ bài vị của ba vị Văn Xương như trên đã nói. Dường như tầng hai là nơi rất ít người tới viếng thăm, chỉ thấy có một ban thờ nhỏ, trên bày một bát nhang lạnh lẽo, phía sau bát nhang là một tấm bài vị, có ba tấm biển nhỏ đề danh hiệu của ba vị Văn Xương bằng chữ quốc ngữ. Có thể nói việc thờ phụng ở tầng hai là khá sơ sài so với tầng dưới.

Mỗi năm tại Văn Thánh Miếu có các ngày lễ lớn:

  • Tế Khổng Tử và các vị Thánh Hiền vào ngày Xuân Đinh và Thu Đinh (ngày Đinh đầu tháng hai và ngày Đinh cuối tháng tám).
  • Tại Văn Xương Các có lễ giỗ Phan Thanh Giản (mùng bốn và mùng năm tháng bảy), ngày giỗ các quan đại thần và cúng âm lịch (ngày 12 và 13 tháng mười).

Nếu so sánh lễ hội với các đình miếu khác ở Vĩnh Long thì lễ hội tại Văn Thánh Miếu thu hút khách hành hương chưa đông nhưng khách đến đây đều với tấm lòng nhiệt thành với văn hóa và yêu kính các bậc tiền nhân.

Văn Thánh Miếu Vĩnh Long được Bộ Văn hóa Thông tin công nhận là di tích văn hóa cấp quốc gia vào ngày 25 tháng 3 năm 1991 (Quyết định số 0557 QĐ ngày 25/3/1991).


([1]) Xem mục Sơ lược tác giả và nhân vật ở cuối sách.

([2]) Xem giải thích tại mục “Chân Võ Đại Đế”, phần Đạo giáo Trung Quốc ở sách này.

([3]) Ba vị tổ của Đạo giáo gồm: Lão Tử, Lã Động Tân, và Trần Đoàn.

([4]) Việt: chỉ tỉnh Quảng Đông hoặc Quảng Tây (Trung Quốc).

4 Responses to Một số nơi khác tại Việt nam có thờ Văn Xương

  1. Me Mai Chi says:

    Xin tác giả cho hỏi núi Hoàng Xá nhắc đến trong bài có phải là Núi Sài Sơn không? Vì ở huyện Quốc Oai cũng có 1 địa danh núi Hoàng Xá cách núi Sài Sơn khoảng 3 km nhưng ở đó không có đền thờ Văn Xương Đế Quân và Quan Thánh Đế Quân.

    Like

    • Núi Hoàng Xá mà chúng tôi nói tới ở đây không phải là núi Sài Sơn mà chính là núi Hoàng Xá mà bạn nói tới. Trên núi này có đền thờ Tử Đồng Đế Quân, chính là đền thờ Văn Xương Đế Quân (không thờ Quan Thánh Đế Quân). Dân địa phương cũng gọi đền này là đền Thượng (giống như đền Thượng của Thụy Khuê). Theo chúng tôi tìm hiểu thì đây chính là một trong hai địa điểm đầu tiên ở nước ta chính thức thờ Văn Xương Đế Quân vào nửa cuối thế kỷ 15 (địa điểm kia là Quán Thánh – Hà Nội). Chúng tôi đã giới thiệu chi tiết về “Đền Tử Đồng Đế Quân trên núi Hoàng Xá” trong Mục “Một số nơi khác tại Việt nam có thờ Văn Xương”. Ngoài ra, bạn có thể tham khảo thêm tại mục “Văn Xương Đế Quân” của trang blog này.

      Cám ơn bạn đã ghé thăm. Chúc bạn và gia đình một năm mới an lành và nhiều niềm vui.

      Like

  2. đào đức minh says:

    ở làng ninh sơn chương mỹ hà nội cũng có sự tích văn xương đế quân hay lắm ạ.

    Like

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s