Sơ lược tiểu sử tác giả và nhân vật

Dưới đây là sơ liệu tiểu sử một số tác giả và nhân vật có tài liệu được sử dụng hoặc được nhắc tới trong cuốn sách này. Sơ lược tiểu sử về các vị hoặc được trích từ các tác phẩm của các vị mà chúng tôi sử dụng, hoặc từ Bách khoa toàn thư mở wikipedia hoặc từ một số nguồn khác. Tên các tác giả và nhân vật được xếp theo thứ tự của bảng chữ cái alphabet.

Đào Duy Anh, sinh  ngày 25/4/1904 tại Thanh Hóa, mất ngày 1/4/1988 tại Hà nội. Quê gốc làng Khúc Thủy, Tả Thanh Oai, Hà Tây cũ. Là nhà sử học, nhà từ điển học, nhà nghiên cứu văn hóa, văn học dân gian nổi tiếng của Việt nam. Giàu lòng yêu nước, từng giúp Huỳnh Thúc Kháng thành lập báo Tiếng dân, trực tiếp làm Thư ký tòa soạn. Tổng bí thư của Tân Việt Cách mạng Đảng. Giảng dạy tại Đại học Sư phạm và Đại học Văn khoa, Chủ nhiệm bộ môn Cổ sử Việt của Đại học Tổng hợp Hà nội. Năm 1958, chuyển sang làm việc tại Bộ Giáo dục, năm 1960 chuyển sang Viện Sử học. Từ đây, ông tập trung vào nghiên cứu. Nghỉ hưu năm 1965 nhưng vẫn tiếp tục nghiên cứu cho tới khi qua đời năm 1988.

Ông là một trong số ít nhân vật Việt nam được ghi tên vào bộ Từ điển Larousse với tư cách là một nhà bách khoa thư của thời hiện đại.

Đào Duy Anh được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Khoa học xã hội năm 2000. Tên của ông được đặt cho các con đường tại quận Phú Nhuận (TP Hồ Chí Minh) và quận Đống Đa (TP Hà Nội).

Đào Duy Anh đã thực hiện trên 30 công trình về nghiên cứu và dịch thuật cổ văn được in thành khoảng hơn 60 tập sách bắt đầu từ năm 1927.

Về từ điển, ông có các bộ: Hán – Việt từ điển (1932), Pháp – Việt từ điển (1936), Từ điển Truyện Kiều (viết xong năm 1965, xuất bản năm 1974).

Về giáo trình, công trình nghiên cứu, ông có các cuốn:Việt Nam văn hóa sử cương (1938); Khổng giáo phê bình tiểu luận (1938); Trung Hoa sử cương (1942); Khảo luận về Kim Vân Kiều (1943); Lịch sử Việt Nam (giáo trình đại học, 1956); Cổ sử Việt Nam (giáo trình đại học, 1956); Lịch sử cổ đại Việt Nam (1957) gồm 4 tập: “Nguồn gốc dân tộc Việt Nam”, “Vấn đề An Dương Vương và nhà nước Âu Lạc”, “Văn hóa đồ đồng và trống đồng Lạc Việt”, “Giai đoạn quá độ sang chế độ phong kiến”; Vấn đề hình thành của dân tộc Việt Nam (1957); Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX (2 tập, 1958); Đất nước Việt Nam qua các đời (1964); Chữ Nôm, nguồn gốc, cấu tạo và diễn biến (1975).

Về hiệu đính, biên dịch, chú giải, ông có các bộ: Lịch triều hiến chương loại chí (1961 – 1962); Đại Nam thực lục (1962 – 1977); Phủ biên tạp lục (1964); Đại Việt sử ký toàn thư (1967 – 1968); Đại Nam nhất thống chí (1969 – 1971); Binh thư yếu lược (1970); Gia Định thành thông chí; Nguyễn Trãi toàn tập (1969); Khóa hư lục (1974); Sở từ (1974); Truyện Hoa Tiên (1978); Thơ chữ Hán Nguyễn Du” (1988).

Ngoài ra ông còn biên dịch và chú giải Kinh Thi, Đạo Đức Kinh và học thuyết của Lão Tử nhưng chưa xuất bản.

Đào Hoàng Cảnh (457 – 536), người xiển dương trào lưu “Tam giáo hợp nhất” hay còn gọi là “Tam giáo đồng nguyên”, là tổ sư đời thứ 9 của giáo phái Thượng Thanh Phái (không chú trọng phù lục). Sau khi quy ẩn 10 năm tại Mao Sơn, ông sáng lập Mao Sơn Tông (coi trọng phù lục), lấy tên núi làm tên giáo phái. Ông cũng là nhà y dược học trứ danh. Ông học rộng, nhiều tài, ngoài việc tinh thông dược thảo, y thuật, ông còn nghiên cứu về thiên văn, lịch pháp, sơn xuyên, địa lý, họa đồ vật sản, luyện đơn, đúc kiếm…

Ông một đời viết sách kể có đến 44 loại. Sách của ông về y dược có “Bản Thảo Kinh Tập Chú”, “Ngoại Khuyết Trửu Hậu Bách Nhất Phương”, “Đào Thị Hiệu Nghiệm Phương”, “Phục Dược Một Tạp Dược Pháp”, “Phục Vân Mẫu Chư Thạch Dược Tiêu Hóa Tam Thập Lục Thủy Pháp” v.v… Trừ các quyển “Bản Thảo Kinh Tập Chú” và “Ngoại Khuyết Trửu Hậu Bách Nhất Phương”, các quyển kia đều đã thất lạc. Cống hiến to lớn của Đào Hoàng Cảnh cho nền y học sử Trung Quốc là việc chỉnh lý quyển “Thần Nông Bản Thảo Kinh”. Quyển “Thần Nông Bản Thảo Kinh” được viết thành sách vào khoảng đời Tần Hán, là một quyển chuyên về dược vật học xưa nhất hiện còn. Đến thời đại Nam Bắc triều, do truyền nhau sao chép, không những “sai sót liên tiếp, nghĩa chữ thiếu sót”, mà nội dung lại hỗn loạn, không đáp ứng được nhu cầu thực tiễn. Vì vậy, ông ra sức chỉnh lý toàn diện quyển sách này. Bộ dược điển thứ nhất “Tân Tu Bản Thảo” do quốc gia ban bố ở đời Đường là bổ sung tu đính trên cơ sở quyển “Bản Thảo Kinh Tập Chú” mà thành. Đến năm 536, ông không bệnh mà mất, hưởng thọ 80 tuổi. Sau khi chết, thụy hiệu là Trinh Bạch tiên sinh.

Trần Cảo, còn gọi là Trần Cao, là thủ lĩnh quân khởi nghĩa cuối thời Lê trong lịch sử Việt nam, làm nhà Lê suy yếu và đi đến sụp đổ. Ông người trang Dưỡng Chân, huyện Thuỷ Đường (nay là huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng). Cuối thời Lê sơ, các vua Lê Uy Mục, Lê Tương Dực tàn ác, chơi bời sa đoạ, triều chính rối ren, khởi nghĩa nông dân liên tiếp nổ ra. Trần Cảo nghe lời sấm truyền trong dân gian rằng phương Đông có khí thiên tử, bèn quyết định khởi binh lập nghiệp lớn. Tháng 3 năm 1516, ông cùng con là Trần Cung và các thủ hạ Phan Ất người Chiêm Thành, Đình Ngạn, Đình Nghệ, Công Uẩn, Đình Bảo, Đoàn Bố dấy binh khởi nghĩa ở chùa Quỳnh Lâm, chiếm cứ hai huyện Thuỷ Đường và Đông Triều. Tháng 4 năm 1516, Trần Cảo mang quân đánh vào các huyện Tiên Du, Quế Dương, Gia Lâm rồi tiến thẳng vào Bồ Đề, uy hiếp Thăng Long. Sau nhiều trận chiến ác liệt, ông chiếm được kinh thành, xưng vương. Nhưng không bao lâu sau thì bị Trịnh Duy Sản đánh bại, phải chạy khỏi kinh thành lên Lạng Nguyên. Ông còn có một lần tiến đánh kinh thành nữa cũng trong năm 1516, nhưng thất bại, phải chạy lên vùng Lạng Nguyên, truyền ngôi cho con là Trần Cung, còn tự mình cạo đầu giả sư để trốn. Sau không ai biết tin tức gì về ông nữa.

Trần Cung nhân lúc các tướng nhà Lê tranh giành quyền bính giết hại lẫn nhau, tiếp tục chiếm cứ phía đông chống lại triều đình, cũng xưng làm vua, đặt niên hiệu là Tuyên Hòa tới tận năm 1521 mới thất bại dưới tay Mạc Đăng Dung – viên tướng giỏi nhất của nhà Lê lúc đó, người không lâu sau lấy ngôi của nhà Lê. Trần Cung bại trận chạy lên châu Thất Nguyên rồi bị triều đình tầm nã bắt được, giải về kinh hành hình.

Trịnh Căn (1633-1709) là vị chúa Trịnh thứ 5 thời Lê Trung Hưng, cầm quyền từ tháng 8 năm 1682 đến tháng 5 năm 1709. Ông là con trưởng của Chúa Trịnh Tạc. Quê làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa.

Ông có tài cầm quân, lại có tiếng văn chương. Thuở trẻ từng đi trấn thủ Nghệ An, tham gia chiến tranh Trịnh Nguyễn. Sau khi cha mất (1682) được nối nghiệp chúa với tước phong ĐịnhNamvương, Đại nguyên súy tổng quốc chính. Ông khéo biết dùng nhân tài, sửa sang việc chính trị, mở mang văn hóa.

Sự nghiệp của Trịnh Căn chính là gạch nối cơ bản giữa thời Trịnh – Nguyễn phân tranh và thời thịnh trị của Đàng Ngoài. Ông là người chỉ huy có công chặn đứng thế bắc tiến của Chúa Nguyễn, giữ hoà bình cho Bắc Hà và đưa miền bắc Đại Việt vào thời kỳ phát triển phồn thịnh trở lại sau nhiều năm binh lửa.

Ông ở ngôi được 28 năm, đến năm Kỉ Sửu 1709 (ngày 25-6 Dương lịch) ông mất, thọ 76 tuổi, miếu hiệu Chiêu tổ Khang vương.

Ông có để lại một tập thơ nôm “Ngự đề Thiên Hoà doanh bách vịnh”. Đây là tập thơ có tính chất cung đình, nhân danh bậc vua chúa vịnh trăm bài thơ ở điện Thiên Hoà, với mục đích ca ngợi triều đại, công tích và ân huệ trị dân của mình. Theo các nhà nghiên cứu văn học, tập thơ có tính chất gần giống với “Hồng Đức quốc âm thi tập” của vua Lê Thánh Tông. Tập thơ có những bài vịnh cảnh sông núi, chúa miếu, thiên nhiên, thời khắc rất hay, thể hiện niềm tự hào về văn vật đất nước. Thơ của ông được các nhà nghiên cứu đánh giá là khá chải chuốt, điêu luyện dù đôi khi sa vào khuôn sáo.

Phan Huy Chú (1782 – 1840), tự Lâm Khanh, thuở nhỏ có tên là Hạo sau đổi tên là Chú, là một danh sĩ triều Nguyễn. Sinh ra ở Thăng Long và lớn lên ở tổng Thụy Khê, huyện Yên Sơn, tỉnh Sơn Tây (nay là thôn Thuỵ Khuê, xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà nội). Là con trai thứ ba của danh sĩ Phan Huy Ích người làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An (nay là xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh). Năm 1787, Phan Huy Ích bỏ làm quan với nhà Lê ở Thăng Long và lên Sài Sơn định cư.

Ông đỗ 2 lần tú tài, người đương thời gọi ông là “kép Thầy”, làm quan dưới triều vua Minh Mạng.

Năm Giáp Thân (1824), ông được cử làm phó sứ sang Trung Quốc. Năm Mậu Tý (1828), làm Phủ thừa tỉnh Thừa Thiên, rồi thăng Hiệp Trấn Quảng Nam.

Năm Canh Dần (1830), ông lại đi sứ Trung Quốc. Lúc về ông và chánh sứ đều bị cách chức. Đến cuối năm này, ông dự vào phái bộ sang Batavia (Giang Lưu Ba) tại Indonesia để lập công chuộc tội. Khi về vào cuối năm Quý Tỵ (1833) được bổ làm Tư vụ bộ Công. Chẳng bao lâu ông cáo bệnh xin về hưu, dạy học ở làng Thanh Mai, huyện Tiêu Phong, tỉnh Sơn Tây.

Ông là tác giả bộ bách khoa Lịch triều hiến chương loại chí và nhiều tác phẩm khác. Ông được người đời suy tôn là nhà bác học, nhà văn hóa của Việt nam.

Trần Hy Di, tức Trần Đoàn, một Đạo sỹ tinh thông Nho, Y, Lý, Số, tu tiên, luyện phép trường sinh. Ông sống vào khoảng cuối triều nhà Đường sang đầu triều nhà Tống, ẩn cư ở Hoa Sơn, nghiên cứu tinh thông Chu Dịch, là tổ sư của học phái Lý Khí trong phong thủy. Nhiều thư tịch cổ còn nói rằng ông là vị tổ sư của môn Tử Vi. Tác phẩm chính yếu của ông gồm 114 thiên về y học, dược học và phương pháp trường sinh học. Ông nổi tiếng về môn Thụy công (công phu ngủ), người đương thời gọi ông là Thụy tiên (tiên ngủ). Giấc ngủ ngắn nhất của ông cũng vài tháng, lâu thì vài năm. Sách truyện có chép rằng, một lần ông đi chơi xa về, gọi mấy người học trò ở nhà vào bảo hãy khoét ở núi Hoa Sơn một chỗ hình lưng ghế, rồi ông tựa lưng vào đó, tay chống lên đầu gối, đỡ lấy cằm và nói: “Ta hóa ở đây”, và ông tắt thở. Tính lại, kể cả những năm ông ngủ ở trong rừng là được 118 năm, nên người đương thời nói ông thọ 118 tuổi (có sách chép 190 tuổi). Xem thêm giới thiệu về ông ở Phần Bốn – Đạo giáo của sách này.

Trình Di (1033-1107) là nhà tập đại thành về Lý học thời Bắc Tống, tự là Chính Thúc, hiệu là Y Xuyên, người Lạc Dương, Hà Nam (nay là Lạc  Dương, Hà Nam, Trung Quốc), người đời gọi là “Y Xuyên tiên sinh”. Thuở nhỏ thông minh hiếu học, hiểu biết hơn người. Từng giữ chức Sùng chính điện Thuyết thư, nhưng cả đời chỉ hiếu cổ mà không thích làm quan, lấy việc kế thừa đạo thống Nho học làm nhiệm vụ của mình, biện rõ dị đoan tà thuyết, coi Đại học, Luận ngữ, Mạnh Tử, Trung dung là chỉ đạo, gợi mở để đạt tới Lục kinh, cùng với anh cả là Trình Hạo sáng lập ra trường phái Nho học mới (Tân nho học). Về chính trị, ông là người trọng bảo thủ. Về triết học, ông chủ trương trong thiên hạ chỉ có một lý. Về luân lý xã hội, ông chủ trương “trai gái có thứ tự cao thấp, vợ chồng có cái lễ xướng tùy”. Tác phẩm chủ yếu có: Y Xuyên văn tập, Y Xuyên Dịch truyện, Trình thị kinh thuyết, Nhị Trình di thư, Nhị Trình ngoại thư….

Henri Doré (1859-1931), người Pháp, là chuyên gia nghiên cứu văn hóa Trung Hoa, tác giả của bộ sách “Recherches sur les superstitions en Chine” (tạm dịch là: “Nghiên cứu tín ngưỡng ở Trung Quốc”), gồm 18 tập, xuất bản tại Thượng Hải trong khoảng thời gian 1911 – 1938.

Minh Đô Vương Trịnh Doanh (1720-1767) ở ngôi từ năm 1740 đến 1767, đồng thời là một nhà thơ Việt Nam. Ông người làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Trịnh Doanh là người có công đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài, ổn định lại chính trị ở Bắc Hà vốn suy yếu trầm trọng thời Trịnh Giang.

Trịnh Doanh là con thứ của chúa Trịnh Cương (1709-1729), em ruột chúa Trịnh Giang (1729-1740). Từ năm 1736 đời Lê ý Tông, được cử giữ chức Thái úy, tiết chế thủy bộ chư doanh, tước An Quốc công lúc mới 16 tuổi. Năm Canh Thân (1740) đời Lê Hiển Tông, được thay anh lên nối nghiệp chúa. Đến năm Nhâm Tuất (1742) tự phong là Đại nguyên soái Tổng quốc chính, Minh Đô vương.

Ông mất tháng giêng năm Đinh Hợi, niên hiệu Cảnh Hưng 28 (1767), được tôn xưng là Nghị tổ Ân vương.

Trong số các chúa Trịnh, Trịnh Doanh là một vị chúa hay thơ và sành về thơ Nôm. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú đã có lời bàn: “Đến Ân vương [Trịnh Doanh] dụng công về việc làm thơ, làm đến mấy trăm bài, cũng đáng gọi là một vị chúa hiền thích văn thơ…”. Tác phẩm của ông có Càn nguyên ngự chế thi tập (1). Sách gồm 268 bài, trong đó có 37 bài thơ chữ Hán và 231 bài thơ chữ Nôm. Như ta đã biết, Trịnh Doanh lên ngôi chúa vào năm 1740 nên số bài thơ này ra đời từ 1740 đến 1767. Tuy nhiên, phải đến khi con trai ông là Trịnh Sâm (1737-1782) lên nắm quyền thì các bài thơ này mới được tập hợp, ghi chép thành sách. Người tuân theo mệnh lệnh chúa Trịnh làm công việc này là Phan Lê Phiên (1734-1809), giữ chức Hàn lâm viện Thị thư, Tư nghiệp Quốc tử giám. Trong bài khải dâng sách đề ngày 20 tháng 8 năm Cảnh Hưng 31 (1770), ông viết: “Kính vâng thánh chỉ, biên chép các bài thơ ngự chế của tiên thánh vương theo thứ tự, sắp đặt thánh huấn theo từng việc, từng loại, vựng thành bốn quyển, đặt tên là Càn nguyên ngự chế thi tập”.

Lê Anh Dũng, là người nghiên cứu về đạo Cao Đài rất nghiêm túc. Đọc bài của ông sẽ nhận ra nhiều khám phá đặc biệt bằng con mắt nhìn và cách diễn giảng qua ngôn ngữ Việt Nam cuối thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI. Ông là nhà giáo, đồng thời là tác giả một số sách giáo khoa, văn học… bên cạnh những tác phẩm về đạo Cao Đài cũng như Tam giáo tại Việt Nam. Một số tác phẩm của ông (kể cả các công trình nghiên cứu về đạo Cao Đài) đã in thành sách, ghi âm vào băng cassettes / CD-rom, hoặc đã đăng trên các báo, tạp chí ở Hà Nội, Huế, Sài Gòn.

Quang Dũng, tên thật là Bùi Đình Diệm, sinh năm 1921 tại làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng (nay thuộc Hà Nội). Năm 1947, ông là đại đội trưởng đoàn quân Tây tiến. Hoạt động văn nghệ ở Liên Khu III thời kháng chiến chống Pháp. Ông là người rất hiền từ, chan chứa tình người. Ông vừa cầm bút, vừa cầm súng, viết rất nhiều thơ, từng là đại đội trưởng của Trung Đoàn Thủ Đô trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau 1954, ông ẩn cư vô danh tại miền Bắc. Ông mất ngày 13-10-1988 tại Hà Nội.

Lê Dư (1885? – 1957) là nhà nghiên cứu lịch sử văn hóa đầu thế kỷ 20. Năm 1924, làm việc cho trường Viễn Đông Bác Cổ Pháp ở Hà nội, bắt đầu nghiên cứu lịch sử, văn hóa Việt nam. Tác phẩm: “Chữ nôm với chữ quốc ngữ”, “Ca vũ và âm nhạc nước nhà”, “Nguồn gốc văn học nước nhà”, “Quốc âm thi văn tùng thoại”, “Nữ lưu văn học sử”, “Thảo trạch anh hùng”…..

Trần Hồng Đức, nhà giáo, nhà nghiên cứu lịch sử, tác giả cuốn Các vị trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa qua các triều đại phong kiến Việt nam (NXB Văn hóa Thông tin 1999) và cuốn Tóm tắt niên biểu lịch sử Việt nam (cùng Hà Văn Thư) (NXB Văn hóa Thông tin, 2000)

Lữ Gia (?-111 TCN), tên hiệu là Bảo Công, quê gốc ở huyện Lôi Dương quận Cửu Chân (huyện Thọ Xuân, Thường Xuân tỉnh Thanh Hoá ngày nay), sau do lánh nạn nên đem gia quyến đến sinh sống tại trang Nam Trì (thuộc xã Đặng Lễ huyện Ân Thi, Hưng Yên ngày nay). Nhận một người Nam Trì là Nguyễn Danh Lang là em kết nghĩa (gọi là Bảo Công, Lang Công). Sau Lữ Gia về quê và kết hôn với công chúa Lâu nương con quận trưởng Hùng Lã, một chi phái Hùng Vương lánh nạn ở châu Ô Lý. Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, Lữ Gia là Tể tướng (Thừa tướng) bốn đời vua Triệu, từ Văn Vương (136 – 125 TCN), Minh vương (124 – 113 TCN), Ai vương (112 TCN) và Thuật Dương vương (112-111 TCN). Sau khi Triệu Vũ vương chết, Triệu Văn vương nối ngôi phong Lữ Gia chức Thị tụng Tham quan. Do công sắp đặt lại kỷ cương trật tự triều chính nên năm Văn vương thứ 6, Lữ Gia được phong Tể tướng. Khi Ai Vương lên ngôi, do còn nhỏ tuổi nên Thái hậu họ Cù nhiếp chính. Cù Thái hậu vốn là người Hán, tư thông với sứ giả Hán là An Quốc Thiếu Quý, lại âm mưu đưa Nam Việt nội phụ nhà Hán, nên Lữ Gia đứng lên làm binh biến, giết Triệu Ai Vương và Cù thái hậu, cùng tất cả sứ giả nhà Hán, rồi lập con trưởng của Minh Vương là Thuật Dương hầu Kiến Đức làm vua, tức là Triệu Thuật Dương Vương. Nhà Hán sai Hàn Thiên Thu sang dẹp, bị Lữ Gia đánh bại, Hàn Thiên Thu bị giết. Nhà Hán lại sai năm tướng đem năm đạo quân sang đánh. Lữ Gia thế yếu, chạy về cố thủ ở Phong Châu, rồi bị bắt và bị xử chém. Theo truyền thuyết, khi ông bị chém, một con chó đã cắp đầu của ông, bơi qua sông, và chôn giấu. Hiện nay, đền thờ Lữ Gia vẫn còn tại một làng ở xã Quang Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Khi Lữ Gia bị chém, quân sĩ quê Nam Trì đưa xác Lữ Gia không có đầu về Nam Trì an táng và thờ cùng Nguyễn Danh Lang. Mộ Lữ Gia và mộ Nguyễn Danh Lang bên bờ sông Nam Trì, nay lăng mộ hai ông ở gò Ba Xã, đền thờ ở gò Vườn Soi, Nam Trì. Thời Bắc thuộc các triều đại Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống của Trung Hoa đều phong Thần Lữ Gia là Trung Thiên Bảo Quốc Đại vương, Nguyễn Danh Lang là Trung Lang Tế Thế Đại vương. Các triều đại Đinh, Lê, Lý, Trần của Việt Nam cũng sắc phong như vậy và sắc phong thêm Thượng Đẳng Phúc Thần; sắc phong Lâu nương Công chúa là Trung Đẳng Thần. Triều hậu Lê sắc phong Lữ Gia là Cương Trực Hiển Thánh, Nguyễn Danh Lang là Dũng Lược Quả Đoán và chuẩn cho trang Nam Trì lập đền thờ chính. Sau lại sắc phong thêm là Dực Bảo Trung Hưng; Lâu nương Công chúa là Tôn Tinh Uyển Dực Bảo Trung Hưng Trai Tĩnh Trung Đẳng Thần. Đền còn thờ hai vị thánh địa lý phong thủy là Tả Ao và Cao Biền. Sau Lữ Gia, Nguyễn Danh Lang và Cao Biền được phong thêm Bản Cảnh Thành Hoàng Đại Vương.

Nguyễn Thượng Hiền (1868-1925) tên tự là Đỉnh Nam, Đỉnh Thần, tên hiệu: Mai Sơn còn được gọi là Ông nghè Liên Bạt, sinh năm 1868 tại làng Liên Bạt, huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông. Ông là con rể quan Phụ chính Đại thần Tôn Thất Thuyết, cha ông là Hoàng giáp Nguyễn Thượng Phiên. Từ nhỏ Nguyễn Thượng Hiền đã nổi tiếng rất thông minh. Năm 1884, khi 17 tuổi, ông đỗ cử nhân ở khoa thi Hương ở Thanh Hóa. Năm 1885, ông đỗ đầu kỳ thi Hội nhưng chưa kịp xướng danh thì kinh thành Huế thất thủ, ông phải về ở ẩn tại núi Nưa, Thanh Hóa. Đến năm 1892, ông ra thi Đình và đỗ Hoàng giáp. Lúc đó 24 tuổi, Nguyễn Thượng Hiền được bổ làm Toản Tu ở Quốc Sử quán, thăng Đốc học ở Ninh Bình, rồi thuyên sang Nam Định nên ông còn được gọi là ông Đốc Nam. Ông kết giao với nhiều sĩ phu yêu nước như
Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng. Sang Trung Quốc cùng Phan Bội Châu thành lập ra Việt nam Quang Phục Hội. Sau khi hoạt động của Việt Nam Quang Phục Hội thất bại, Nguyễn Thượng Hiền xuống tóc vào tu ở chùa Thường Tích Quang, Hàng Châu, tỉnh Chiết Giang và mất tại đây ngày 28/12/1925. Theo di chúc, thi hài ông được hỏa táng, và tro rải xuống sông Tiền Đường.

Nguyễn Duy Hinh, sinh năm 1930 tại huyện An Nhơn, Bình Định, Phó giáo sư sử học. Tốt nghiệp khoa sử trường đại học Bắc Kinh (Trung Quốc) năm 1962. Công tác tại Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia, lần lượt ở các Viện Sử học, Viện Kinh tế học, Viện Khảo cổ học, Viện nghiên cứu tôn giáo. Về hưu tháng 11 năm 1999. Tác phẩm: Tháp cổ Việt nam (NXB Khoa học Xã hội, 1992), Chu dịch phổ thông (NXB Mũi Cà mau, 1995), Tín ngưỡng thành hoàng Việt nam (NXB Khoa học Xã hội, 1996), Kiến trúc cổ Việt nam (Trường ĐH Kiến trúc TP HCM 1997, lưu hành nội bộ), Tuệ Trung: Nhân sỹ – Thượng sỹ – Thi sỹ (NXB Khoa học Xã hội, 1998), Tư tưởng Phật giáo Việt nam (NXB Khoa học Xã hội, 1999), Trống đồng – Quốc bảo Việt nam (NXB Khoa học Xã hội, 2001), Người Việt nam với Đạo giáo (NXB Khoa học Xã hội, 2003), Văn minh Lạc Việt (NXB Văn hóa Thông tin, 2004), Văn minh Đại Việt (NXB Văn hóa Thông và Viện Văn hóa, 20005)

Phan Huy Ích (1751 – 1822), tên thật là Phan Công Huệ, sinh ngày 12 tháng Chạp năm Canh Ngọ (tức 9/1/1751) ở làng Thu Hoạch, huyện Thiên Lộc, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An, (nay thuộc xã Thạch Châu, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tỉnh). Do kiêng húy của Tuyên phi Đặng Thị Huệ, về sau ông đổi tên là Huy Ích.

Ông là con trai đầu của Tiến sỹ Phan Huy Cận (hay Cẩn, về sau đổi thành Phan Huy Áng). Thuở nhỏ, ông sống và học tập tại làng Thu Hoạch, đến năm 20 tuổi, ông thi đỗ Giải nguyên tại trường thi Nghệ An. Trước đó, năm 1753, thân phụ ông là Phan Huy Cận cũng đỗ Giải nguyên tại trường thi Hương này.

Sau khi đỗ Giải nguyên, ông được triều đình thu dụng và bổ nhiệm một chức quan nhỏ tại trấn SơnNam. Ông trở thành học trò của Ngô Thì Sỹ, được thầy mến tài và gả con gái cho.

Năm 1775, ông cùng người anh vợ là Ngô Thì Nhậm dự thi Hội và cùng đỗ Tiến sỹ. Khoa này có 18 tiến sĩ, và Phan Huy Ích đỗ Hội nguyên Tiến sĩ, đứng đầu số đó. Trước đó, vào năm 1754, thân phụ ông cũng từng đỗ Hội nguyên Tiến sĩ như thế.

Năm 1776, ông tiếp tục thi đỗ kỳ thi Ứng chế và được triều đình bổ làm Hàn lâm thừa chỉ, rồi làm Đốc đồng tỉnh Thanh Hóa, trông coi việc an ninh. Sau đó, ông được thăng Hiến sát xứ Thah Hóa, trông coi việc xét xử và luật pháp.

Cuối năm 1787, quân Tây Sơn ra Bắc lần thứ hai. Lê Chiêu Thống chạy sang Trung Quốc cầu cứu. Phan Huy Ích bỏ lên Sài Sơn (Sơn Tây), chấm dứt 14 năm làm quan với chính quyền vua Lê – chúa Trịnh.

Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc, xuống chiếu cầu hiền. Phan Huy Ích ra hợp tác với Tây Sơn, được phong làm Tả thị lang Bộ Hộ.

Năm 1792, ông được thăng Thị trung ngự sử ở tòa Nội các rồi Thượng thư bộ Lễ. Cũng trong năm này, vua Quang Trung mất.

Mùa hạ năm 1802, quân Nguyễn Ánh ra Bắc. Ông bị bắt cùng với Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thế Lịch, cả ba đều bị đánh đòn trước Văn Miếu. Năm 1814 ông về quê làng Thu Hoạch dạy học và sau đó lại ra Sài Sơn an dưỡng.

Ông mất ngày 20 tháng Hai năm Nhâm Ngọ (tức 13/3/1822).

Trần Tuấn Khải (4/11/1895 – 7/3/1983) là nhà thơ yêu nước. Các bút danh của ông là: Á Nam (thường dùng), Đông Minh, Đông Á Thị, Tiểu Hoa Nhân, Lâm Tuyền Khách, Giang Hồ Khách, Lôi Hoàng Cư Sĩ. Trần Tuấn Khải người làng Quan Xán, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định. Xuất thân là nhà nho nghèo, có truyền thống yêu nước. Cha ông là Trần Khải Thụy đậu cử nhân khoa thi Hương tại Nam Định năm Canh Tý (1900). Năm lên 6 tuổi, ông bắt đầu học chữ Hán với cha. Bà mẹ ông cũng là người thuộc nhiều ca dao, thi phú, lại hết lòng dạy dỗ con, vì vậy mới 12 tuổi, ông đã biết làm đủ các thể thi bằng chữ Hán. Xuất bản nhiều thơ yêu nước. Từng bị Pháp bắt giam. Năm 1954 ông vào Nam, làm việc tại Thư viện quốc gia, Viện khảo cổ, chuyên viên Hán học tại Nha văn hóa và các báo Đuốc Nhà Nam, Văn hóa nguyệt san, Tin văn… Năm 1966, ông cùng một số trí thức tiến bộ kí tên yêu cầu chính quyền Việt nam Cộng hòa trực tiếp hiệp thương với Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam nhằm vãn hồi hòa bình, nên bị buộc nghỉ việc. Sau đó, ông là chủ tịch danh dự lực lượng bảo vệ văn hoá dân tộc năm 1966 – 1967. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông giữ chức cố vấn Hội Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh từ 1975 cho đến khi mất vì tuổi già tại cư xá Trần Quốc Toản, hưởng thọ 88 tuổi (1983).

Phùng Khắc Khoan (1528-1613) hiệu là Hoằng Phu, Nghị Mai, Mai Nham Tử, đỗ Đệ nhị giáp tiến sỹ, tức là Hoàng Giáp vào năm Quang Hưng thứ 3 (1580) đời vua Lê Thế Tông, khi ấy ông 53 tuổi. Quê ông ở làng Bùng, xã Phùng Xá, huyện Thạch Thất, tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà nội). Ông được phong nhiều chức vụ quan trọng như Đặc tiến Kim tử vinh lộc đại phu Tán trị Thừa chính sứ ty, Thừa chính các xứ Thanh Hóa, Tả thị lang bộ Công, Thượng thư bộ Công, Thượng thư bộ Hộ… Ông có học vấn uyên thâm, khi đi sứ Trung Quốc ứng đối xuất sắc nên được vua nhà Minh đặc cách phong làm Trạng nguyên. Mặc dù ông chỉ đỗ Hoàng giáp nhưng người đời quen gọi ông là trạng Bùng. Khi đã về quê trí sỹ, ông cho làm Nhật Tiên Kiều và Nguyệt Tiên Kiều tại Chùa Thầy.

Trần Trọng Kim, nhà giáo dục, nhà biên khảo văn học và sử học Việt Nam, bút hiệu Lệ thần, sinh năm 1883 (Quý Mùi) tại làng Kiều Linh, xã Đan Phố, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Xuất thân trong một gia đình Nho giáo, lại học cả tiếng Pháp, từng học trường Pháp Việt Nam Định, trường Thương Mại ở Lyon (Pháp) và trường Thuộc địa của Pháp, trường Sư phạm Melun. Dạy học ở trường Bưởi, trường Hậu bổ và trường nam Sư phạm.

Ông giữ nhiều chức vụ trong ngành giáo dục thời Pháp thuộc như: Thanh tra Tiểu học (1921), Trưởng ban Soạn thảo Sách Giáo khoa Tiểu học (1924), dạy Trường Sư phạm thực hành 1931, giám đốc các trường nam tiểu học tại Hà Nội (1939). Trần Trọng Kim còn là Phó trưởng ban Ban Văn học của Hội Khai trí tiến đức và Nghị viên Hội đồng Dân biểu Bắc Kỳ. Một năm sau khi ông về hưu (1943), Nhật Bản kéo vào Đông Dương và bí mật đưa ông cùng Dương Bá Trạc ra nước ngoài. 1945, ông được đưa về nước. Từ thập niên 1910 đến thập niên 1940, ông cũng viết nhiều sách về sư phạm và lịch sử.

Khi Nhật đảo chính Pháp năm ngày 9/3/1945, tuyên bố trao trả độc lập cho Việt nam, Trần Trọng Kim được giao nhiệm vụ thành lập nội các và trở thành Thủ tướng đầu tiên của Việt nam (ngày 17/4/1945). Tháng 6 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt nam; đặt quốc thiều là bài “Đăng đàn cung”; quốc kỳ có “nền vàng hình chữ nhật, giữa có hình quẻ Ly màu đỏ thẫm”.

Chính phủ Trần Trọng Kim thực chất vẫn nằm dưới sự bảo hộ của quân đội Nhật chiếm đóng Đông Dương, vì vậy có nhiều người cho rằng đây chỉ là một chính phủ bù nhìn thân Nhật và không có được sự ủng hộ của dân chúng. Khi quân Nhật đầu hàng Đồng Minh, Chính phủ Trần Trọng Kim cũng chỉ tồn tại được đến ngày 23/8/1945 thì sụp đổ.

Sau khi Việt Minh giành được chính quyền và nước Việt nam Dân chủ Cộng Hòa được thành lập, Trần Trọng Kim lưu vong ra nước ngoài. Sau nhiều năm tháng long đong ở Quảng Châu và Hồng Kông, ngày 6/2/1947, ông trở về Sài Gòn và sống tại nhà luật sư Trịnh Đình Thảo. Năm 1948, ông qua Nam Vang sống với người con gái. Sau đó, ông lại trở về Việt Nam sống thầm lặng và mất tại Đà Lạt vào ngày 2/12/1953, thọ 71 tuổi.

Trần Trọng Kim được đánh giá là một học giả uyên thâm cả tân và cựu học, là người tận tụy cho ngành giáo dục Việt Nam đầu thế kỷ 20. Tuy nhiên, ông là người có tư tưởng bảo thủ và dân tộc – bảo hoàng. Tác phẩm Việt Nam sử lược được đánh giá là một trong những quyển sử Việt Nam có phong cách ngắn gọn, súc tích và dễ hiểu, được tái bản nhiều lần.

Trước năm 1945, Trần Trọng Kim có nhiều tác phẩm nổi tiếng thời bấy giờ về các lĩnh vực sử học, nghiên cứu và sư phạm gồm: Sơ học luân lý (1914), Vương Dương Minh (1914), Sư phạm khoa yếu lược (1916), Việt nam sử lược (1919), Nho giáo (1930), Phật lục (1940), Quốc văn giáo khoa thư, 3 tập: lớp Đồng ấu, Dự bị, và Sơ đẳng (soạn cùng Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Thận, Nam Sơn Nguyễn Văn Thọ vẽ), Việt nam văn phạm (cùng Bùi Kỷ, Nguyễn Mạnh Tường) (1941).

Sau năm 1945, ông viết hồi ký Một cơn gió bụi (1949)

James Legge (1815-1897) là nhà nghiên cứu Trung Quốc học nổi tiếng, người Scốt-len (Anh), đại diện phái bộ truyền giáo Tin lành của Anh tại Malacca và Hồng Kông. Ông cũng là giáo sư đầu tiên dạy môn tiếng Trung tại trường Đại học Oxford (Anh). Ông cùng với Max Muller soạn bộ sách gồm 50 tập mang tựa đề Kinh Điển Đông Phương, xuất bản trong khoảng 1878 – 1891.

Nguyễn Thế Long, nguyên là chuyên viên Trung tâm biên soạn Từ điển bách khoa Việt nam, thành viên Viện nghiên cứu và phổ biến kiến thức bách khoa Việt nam.

Lý Phục Man, danh tướng của Lý Nam Đế (Lý Bí) sống vào thế kỉ 6. Tên húy là Phạm Tu. Quê ở làng Cổ Sở (tục gọi là làng Giá, Hoài Đức, Hà Tây). Tương truyền là người giỏi võ nghệ, theo Lý Bí khởi nghĩa chống quân Lương (Trung Quốc), lập nhiều chiến công. Nhà Tiền Lý (544 – 555) thành lập, ông được cử trông coi vùng đất phía nam, đánh tan cuộc xâm lấn của Chămpa. Sau đó được gả công chúa Lý Nương, và được ban quốc tính (họ Lý) và chức Thái uý, gọi là Phục Man tướng quân. Trở về quê quản lĩnh vùng đất Đỗ Động, Đường Lâm (Hà Tây). Nhà Lương xâm lược, ông hy sinh trong chiến đấu. Dân làng thương nhớ dựng đền thờ ông.

Trải các đời vua kể từ triều Lý, ông đã được phong nhiều sắc phong với các như mỹ tự: Gia Thông, Minh Cảm, Chứng An, Hựu Quốc, Bảo Dân, Phi Hiển, Hoằng Liệt, Chiêu Nghị, Linh Tế, Chương Ứng, Anh Dũng, Uy Địch, Dương Vũ, Hùng Lược Trang Tín, Nhân Đức, Trung Trí, Nghĩa Hòa, Phù Mỹ, Dụ Phúc, Quang Tuệ, Quảng Vận, Tư Hư, Phù Thế, Thuần Mỹ, Đốc Khang, Uyên Xung, Cương Chính, Công Trực, Thông Triết, Ý Duệ, Khoan Nhân, Quảng Doãn, Chung Tú, Dực Thiện Thịnh Minh, Nhân Thánh, Cương Nghị Thông Bạch, Đốc Khánh Thùy Hưu, Hựu Quốc Hộ Dân, Dực Vận Tán Trị, Triệu Mưu Tá Tích, Khuông Quốc Phúc Dân, Kiến Mưu Khuông Tục, Tế Thế, An Dân, Thông Trực, Đôn Nghị, Chính Đại, Quang Minh, Phấn Lực, Trí Dũng, Hãm Địch, Hoằng Tướng…

(Theo “Văn bia đền thờ Phục Man tướng quân Phạm Tu”, Yên Sơn Nguyễn Bá Hân dịch sang quốc ngữ)

Lê Anh Minh, sinh tại An Giang, hiện cư ngụ và làm việc tại TP Hồ Chí Minh, là dịch giả và nhà nghiên cứu có tiếng về triết giáo phương Đông. Có thể kể đến một số tác phẩm đồ sộ về văn hóa phương Đông của ông như: Triết giáo Đông phương (đồng chủ biên), Kinh Dịch Và Cấu Hình Tư Tưởng Trung Quốc (đồng chủ biên), Lịch sử văn minh và các triều đại Trung Quốc (đồng chủ biên), Chu dịch đại truyện… Cuốn sách mà ông vừa dịch và cho ra mắt năm 2007 là cuốn cuốn Lịch sử triết học Trung Quốc của Phùng Hữu Lan, một công trình đồ sộ và quan trọng của văn hóa Trung Quốc, được xem là một giáo trình căn bản về triết học Trung Quốc tại các trường đại học Tây phương, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản. Ngoài ra, ông cũng dịch cuốn Tinh thần của triết học Trung Quốc của Phùng Hữu Lan. Phần Hai – Cận cảnh đền Thượng của sách này cũng giới thiệu nhiều nội dung nghiên cứu và dịch thuật của ông.

Joseph Needham, tên đầy đủ là Noel Joseph Terence Montgomery Needham (9/12/1900 – 24/3/1995), còn có tên Trung Quốc là Li Yuese, người Anh, là nhà nghiên cứu về Trung Quốc học có tiếng. Các công trình nghiên cứu về Trung Quốc của ông trải dài từ năm 1954 tới tận khi ông mất, với hàng chục tác phẩm nghiên cứu nhiều mặt về nền văn minh Trung Quốc đã được xuất bản. Các đồng nghiệp của ông hiện vẫn đang tiếp tục các công trình nghiên cứu này.

Phan Ngọc (sinh năm 1925) là một nhà ngôn ngữ học và nhà nghiên cứu văn hóa Việt nam. Cụm công trình về văn hóa Việt Nam của ông gồm “Văn hóa Việt Nam, cách tiếp cận mới” (1994) và “Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều” (1985) đã được Nhà nước Việt Nam tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2000.

Phan Ngọc sinh tại Yên Thành, Nghệ An trong một gia đình có truyền thống Nho học. Ông chỉ có bằng chính thức là bằng tú tài thời Pháp thuộc, nhưng vốn kiến thức của ông chủ yếu là do tự học mà có. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, ông tham gia chiến đấu trong biên chế của Sư đoàn 304. Từ 1952 – 1954, Phan Ngọc là Trưởng phòng Phiên dịch Bộ Giáo dục, từ 1954-1955 là Sĩ quan Ban Liên hiệp đình chiến. Từ 1955-1958 là phụ giảng tại trường Đại học Sư phạm Hà nội, tổ trưởng Tổ Ngôn ngữ học, Văn học Trung Quốc, Lý luận văn học; nhân viên phiên dịch khoa Văn trường Đại học Tổng hợp Hà nội. Từ 1980 – 1995, ông là chuyên viên cao cấp tại Viện nghiên cứu Đông Nam Á thuộc Viện Khoa học Xã hội Việt nam. Phan Ngọc đã giảng dạy ở Pháp, New Zealand, Hồng Kông, Singapore và viết khoảng 200 bài nghiên cứu đăng báo và tạp chí.

Phan Ngọc là người biết nhiều ngoại ngữ. Ông từng dịch bộ Triết học Hegel từ tiếng Đức sang tiếng Việt để phục vụ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV của Đảng Cộng sản Việt nam. Ông dịch Thần thoại Hy Lạp từ nguyên bản tiếng Hy Lạp; Spartacus từ nguyên bản tiếng Ý; Chiến tranh và hòa bình từ nguyên bản tiếng Nga; Sử ký Tư Mã Thiên, thơ Đỗ Phủ… từ nguyên bản tiếng Hán; Shakespear từ nguyên bản tiếng Anh.

Nguyễn Tôn Nhan, sinh năm Đinh Hợi (1947), mất ngày 31/1/2011 tại Sài Gòn, là một thi sĩ mê chữ. Ông là tác giả của khoảng 50 đầu sách, chuyên về Hán học, có thể kể những cuốn tiêu biểu như: Từ điển thành ngữ điển tích Trung Quốc(NXB Văn hóa Thông tin, 1999); Từ điển văn học cổ điển Trung Quốc (NXB Văn nghệ TP. HCM, 1999); Từ điển Hán Việt văn ngôn dẫn chứng (NXB TP. HCM, 2001); Bách khoa thư văn hóa cổ điển Trung Quốc (NXB Văn hóa Thông tin, 2000); Nho giáo Trung Quốc (NXB Văn hóa Thông tin, 2005)… Ngoài ra, những bộ sách do ông dịch và chú giải cũng rất đáng kể như: Nam hoa kinh, Xung hư chân kinh, Hoài Nam tử…

Nguyễn Vinh Phúc (1926-28/1/2012), nhà giáo ưu tú, giải thưởng “Bùi Xuân Phái – Vì tình yêu Hà Nội” (2009), “Công dân Thủ đô Ưu tú” (2010), nhà Hà nội học, quê gốc Hưng Yên, dạy văn sử địa ở Hà Nội. Có nhiều công trình nghiên cứu về văn hóa, lịch sử, tập quán của Hà nội.

Đã có nhiều tập sách xuất bản riêng như: Hà nội nghìn năm, Hà nội và phụ cận, Hồ Hoàn Kiếm và đền Ngọc Sơn, Phố và đường Hà nội, Hà nội – cõi đất, con người…, và chủ biên năm bộ sách gồm: Đường Hà nội, Hỏi đáp 1000 năm Thăng Long, Du lịch Hà nội, Thần tích Hà nội và tín ngưỡng thị dân, Lịch sử Thăng Long – Hà nội. Ngoài ra, còn có nhiều bài báo và công trình nghiên cứu về Hà nội viết chung với các tác giả khác.

Cao Bá Quát (1809-1855) là một nhà thơ Việt nam. Ông có tên tự là Chu Thần, hiệu là Cúc Đường, biệt hiệu là Mẫn Hiên. Thơ văn của ông được vua Tự Đức, một người giỏi văn thơ, đã phải ngợi khen: Văn như Siêu, Quát vô tiền Hán (Văn như Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát, đời Tiền Hán không có ai bằng). Cao Bá Quát là bạn thơ văn với Nguyễn Văn Siêu, tạo nên cặp nhà thơ “Thần Siêu Thánh Quát”.

Cao Bá Quát là một trong hai anh em sinh đôi, sinh ra trong một gia đình khoa bảng. Ông nổi tiếng thông minh, học giỏi ngay từ nhỏ. Người anh em song sinh với ông là Cao Bá Đạt cũng là cha của một nhà thơ sau này, Cao Bá Nhạ. Cha ông là Cao Tửu Chiếu là một nhà nho hay chữ.

Ông sinh năm 1809 tại làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh, nay là thôn Phú Thị, xã Phú Thị, huyện Gia Lâm, Hà nội. Có tài liệu cho rằng quê gốc của ông ở xã Hải Yến, huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa.

Năm 1832 ông thi hương đỗ Á Nguyên, nhưng thi hội mãi vẫn không đỗ. Nhưng ông không đỗ không phải vì ông kém tài mà là vì bị quan trường đánh hỏng. Năm 1841 ông được bổ giữ chức Hành tẩu bộ Lễ. Tháng 8 năm 1841, ông được cử làm sơ khảo trường thi Thừa Thiên, thấy một số bài thi hay nhưng phạm húy, ông cùng bạn chữa giúp. Việc bị phát giác, tội ông đáng chém nhưng sau được xét lại, chỉ cách chức và tù 3 năm. Năm 1847 ông được mời làm ở Viện hàn lâm, sưu tầm văn thơ. Cảm kích trước thái độ ân cần giúp đỡ của hai vị hoàng thân là Tùng Thiện Vương và Tuy Lý Vương, ông gia nhập Mạc Vân Thi xã (do hai hoàng thân sáng lập).

Do tính khinh miệt triều đinh và vua quan, Cao Bá Quát bị đầy về làm giáo học ở vùng quê Quốc Oai và làm Quốc sư cho Lê Duy Cự, dòng dõi nhà Lê, nổi lên chống triều Nguyễn năm 1854. Lúc đầu quân khởi nghĩa giành được một số thắng lợi ở Sơn Tây, Nam Định, nhưng rồi bị quân triều đình đánh tan. Theo Thư mục chính biên thì ông bị bắn chết trong một trận đánh, nhưng có tài liệu cho rằng ông bị bắt giải về triều và bị chém đầu. Vua Tự Đức ra lệnh tru di tam tộc dòng họ Cao.

Sau khi họ Cao bị tru di tam tộc, các tác phẩm của Cao Bá Quát bị cấm lưu hành và bị thu hồi đốt. Tuy vậy đến nay vẫn còn các tập:

  • Cao Bá Quát thi tập
  • Cao Chu thần di cảo
  • Cao Chu thần thi tập
  • Mẫn Hiên thi tập

Thơ, văn của ông được chép rải rác trong các sưu tập thơ văn chữ Hán, chữ Nôm.

Nội dung các tác phẩm chú yếu phản ánh thực trạng xã hội đương thời và mong muốn thay đổi xã hội.

Ngô Thì Sĩ (1726-1780) là nhà sử học, nhà văn, nhà thơ nổi tiếng ở thế kỷ 18 tại ViệtNam; được Phan Huy Chú đánh giá là người có “học vấn sâu rộng, văn chương hùng vĩ, làm rạng rỡ cho tông phái nho gia, là một đại gia ở Nam Châu (tức SơnNam thượng)”.

Ông sinh ngày 20 tháng 9 năm Bính Ngọ (tức 15/10/1726) tại làng Tả Thanh Oai (làng Tó), huyện Thanh Oai, trấn SơnNam(sau thuộc tỉnh Hà Đông, và nay thuộc huyện Thanh Trì, Hà Nội).

Gia đình Ngô Thì Sĩ nổi tiếng thi thư. Ông nội là Ngô Trân, cha là Ngô Thì ức, em là Ngô Thì Đạo đều có tài văn học.

Ông học giỏi, nhưng thi cử lận đận, vì những ý tứ mới lạ và văn chương phóng khoáng của ông không hợp với các quan trường. Tiếng tăm ông lừng lẫy càng làm cho người ta thành kiến. ở các kỳ thi Hội, người chấm cứ tìm các bài văn đoán là văn Ngô Thì Sĩ để đáng hỏng. Chúa Trịnh biết việc này, đã cách chức một khảo quan là Trần Tổ (1752), nhưng thành kiến của quan trường vẫn không thay đổi. Đến năm 1766, Ngô Thì Sĩ mới đỗ được Hoàng Giáp. Ông liên tiếp làm quan ở nhiều nơi: Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An, rồi cuối cùng là Đốc trấn ở Lạng Sơn, mất tại nhiệm sở ngày 22-10-1780.

Ngô Thì Sĩ là cha của các danh sĩ: Ngô Thì Nhậm, Ngô Thì Chí, Ngô Thì Trí, Ngô Thì Hương, và là cha vợ của Phan Huy Ích.

Nguyễn Văn Siêu (1795-1872): Nhà văn, nhà thơ nổi tiếng. Tự là Tốn Ban, hiệu là Phương Ðình, quê làng Lủ (Kim Lũ) này là xã Ðại Kim, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Ông thi hương đỗ Á nguyên năm 1838, thi hội đỗ Phó Bảng, lúc 39 tuổi làm quan đến Kiểm thảo viện Hàn lâm, rồi trải qua các chức vụ Chủ sự bộ Lễ, Thừa chỉ Nội các, Thị giảng học sĩ (phụ trách việc giảng sách cho các hoàng tử, trong số ấy có Nguyễn Phúc Hồng Bảo, Nguyễn Phúc Hồng Nhậm)…

Năm 1849, ông làm phó sứ sang Trung Quốc, khi về thăng Học sĩ Viện Tập hiên, rồi ra làm án sát Hà Tĩnh, án sát Hưng Yên. Năm 1854 ông dâng sớ điều trần nhiều việc, triều đình bỏ qua không xem xét đến. Ông chán nản từ quan, lui về quê chuyên tâm soạn sách.

Từ đó cho tới khi qua đời (1872), thọ 73 tuổi), non 20 năm Nguyễn Văn Siêu ở Hà Nội, vui với việc dạy học, soạn sách. Điều đáng kể nữa, đó là việc lập nhà thờ họ ở làng Kim Lũ; và việc ông đã đứng ra tu sửa đền Ngọc Sơn, bắc cầu Thê Húc, xây Tháp Bút và Đài Nghiên…ở tại Hồ Gươm (Hà Nội).

Trịnh Tuệ (1701 – ?) Trước tên là Trịnh Huệ, sau vì trùng tên với Tuyên phi Đặng Thị Huệ nên đổi thành Trịnh Tuệ, tên hiệu là Cúc Lam, là trạng nguyên trong lịch sử Việt Nam. Ông quê ở Biện Thượng (nay thuộc xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa), trú quán tại xã Bất Quần (nay là xã Quảng Thịnh, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa). Ông đỗ trạng nguyên khoa Bính Thìn – Vĩnh Hựu 2 (tức năm 1736), đời Lê Ý Tông. Ông là trạng nguyên cuối cùng của lịch sử khoa cử Nho giáo ViệtNam. Ông từng làm Tham tụng, Thượng thư bộ Hình, Tế tửu Quốc Tử Giám (hiệu trưởng). Khi mất được phong Hữu thị lang

Đỗ Cảnh Thạc (?-967): Theo thần phả Độc nhĩ đại vương ở Thanh Oai, cha Đỗ Cảnh Thạc là Đỗ Thục, người gốc Quảng Lăng (Trung Quốc). Thời Ngũ đại Thập quốc tương đương thời kỳ tự chủ Việt nam, Đỗ Thục sang Tĩnh Hải quận và sinh ra Đỗ Cảnh Thạc.

Sách Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục của nhà Nguyễn chú rằng Đỗ Cảnh Thạc “người huyện Thuận Đức thuộc Quảng Đông”.

Như vậy các nguồn tài liệu đều khẳng định Đỗ Cảnh Thạc có nguồn gốc Trung Quốc.

Năm 937, Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ để cướp ngôi Tiết độ sứ. Đỗ Cảnh Thạc vào Ái châu đi theo Ngô Quyền. Năm 938, ông giúp Ngô Quyền giết Kiều Công Tiễn và sau đó phá quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng.

Ngô Quyền xưng vương (939), phong Đỗ Cảnh Thạc làm Chỉ huy sứ. Năm 944, Tiền Ngô Vương mất, Dương Tam Kha giành ngôi của thái tử Ngô Xương Ngập, tự xưng là Dương Bình Vương. Xương Ngập bỏ trốn, chạy đến Nam Sách Giang, ẩn náu tại nhà Phạm Lệnh Công ở Trà Hương. Dương Tam Kha nhận em Xương Ngập là Ngô Xương Văn làm con nuôi.

Dương Tam Kha sai Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi đem quân đi lùng Xương Ngập, ba lần đến Trà Hương đều không bắt được Xương Ngập vì Phạm Lệnh Công đem Xương Ngập giấu vào trong động núi. Tam Kha biết tin, lại sai lùng tìm nhưng cuối cùng vẫn không tìm thấy.

Năm 950, Dương Tam Kha lại sai ông và Dương Cát Lợi đi cùng Ngô Xương Văn đem quân đi đánh hai thôn ở Thái Bình. Khi đi đến huyện Từ Liêm, Xương Văn bảo hai tướng rằng:

Đức trạch của Tiên vương ta thấm khắp lòng dân, tất cả các chính lệnh thi hành không ai là không vui lòng theo cả. Chẳng may Tiên vương ta mất đi. Bây giờ Bình Vương là kẻ bất nghĩa, tự cướp lấy ngôi, còn tội gì hơn nữa! Nay lại sai chúng ta đi đánh các ấp vô tội kia, may mà được đã vậy, nếu họ không phục thì làm thế nào?

Đỗ Cảnh Thạc và Dương Cát Lợi xin nghe theo mệnh lệnh của Xương Văn. Xương Văn bàn mưu đem quân quay về đánh úp Bình Vương để phục lại cơ nghiệp nhà Ngô. Hai quan sứ đều đồng tình, giúp Xương Văn quay về đánh đổ Dương Tam Kha.

Dưới thời Hậu Ngô Vương, Đỗ Cảnh Thạc tiếp tục được trọng dụng.

Năm 965, Ngô Xương Văn đi dẹp loạn bị tử trận. Theo sử sách, trong lúc triều đình Cổ Loa hỗn loạn, Đỗ Cảnh Thạc cùng các tướng Dương Huy, Kiều Tri Hựu và Lã Xử Bình tranh giành quyền bính. Sau đó ông kéo quân ra ngoài, chiếm giữ vùng Đỗ Động Giang, đắp thành Quèn cát cứ, trở thành một sứ quân, tự xưng Đỗ Cảnh Công.

Sứ quân Đỗ Cảnh Thạc là một sứ quân mạnh, có cung thành chắc chắn và hào sâu bao quanh. Theo thần phả Độc nhĩ đại vương ở Thanh Oai, Đỗ Cảnh Thạc là người trí dũng mưu lược, Đinh Bộ Lĩnh phải bàn mưu tính kế mà đánh. Ban đêm, Đinh Bộ Lĩnh cho quân bao vây 4 mặt thành và tiến đánh bất ngờ vào Trại Quyền. Bấy giờ Đỗ Cảnh Thạc đang ở đồn Bảo Đà, quân tướng không ứng cứu được nhau, bị mất cả thành luỹ, đồn trại, lương thực bèn bỏ thành chạy. Hai bên giao tranh hơn một năm sau, Đinh Bộ Lĩnh hạ được thành. Đỗ Cảnh Thạc bị trúng tên chết. Đó là năm 967. Năm sau, Đinh Bộ Lĩnh dẹp hết các sứ quân lên làm hoàng đế, tức là vua Đinh Tiên Hoàng.

Văn Dĩ Thành (? – ?). Sách Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ có chuyện Tướng Dạ Xoa, đại ý như sau:

Văn Dĩ Thành là kẻ sỹ người hạt Quốc Oai, tính tình hào hiệp, cương nghị, không chịu để ma quỷ mê hoặc. Phàm những hoa yêu nguyệt quái và dâm thần lệ quỷ không được liệt vào tự điển thì chàng đều coi thường không sợ hãi gì. Cuối đời Trùng Quang (1409-1414) nhà Trần, người chết chóc nhiều, những oan hồn không nơi nương tựa thường họp lại thành từng đàn từng lũ, hoặc gõ cửa hàng cơm để kiếm miếng ăn, hoặc đón con gái chơi để kết duyên tạm, ai va chạm thì bệnh nguy khốn. Lũ ma này hoành hành ở đồng nội không biết kiêng sợ gì cả, khiến cho dân tình rất là khốn đốn. Dĩ Thành đem lời phủ dụ khiến chúng tâm phục và tôn chàng làm chủ soái. Dĩ Thành bèn đặt ra sáu điều buộc lũ ma quỷ này phải tuân thủ, đó là: không được coi khinh mệnh lệnh, không được quen thói dâm ô, không được quấy quắt để làm hại mạng dân lành, không cướp bóc và phải cứu nạn cho dân, ban ngày không được giả bệnh, ban đêm không được kết đảng. Từ đó dân tình bớt được nhiều nỗi lo sợ ngày đêm.

Ít lâu sau, nhân lúc Dĩ Thành đang lúc ngồi nhàn thì thấy có người tự xưng là sứ giả của Diêm Vương tới mời chàng đi, nói rằng Diêm Vương thấy chàng là người tiết tháo, cương trực, muốn đem phẩm trật tặng cho. Dứt lời thì không thấy người ấy đâu nữa. Dĩ Thành đòi chúng quỷ lại để hỏi rõ thực hư thì chúng đều nói rằng chuyện ấy là có thực, rằng Diêm Vương muốn dành chức quan đứng đầu bốn bộ Dạ Xoa cho chàng. Dĩ Thành bèn thu xếp việc nhà rồi chết.

Sau có người cùng làng với Dĩ Thành tên là Lê Ngộ, trước vốn là bạn thân, phiêu bạt ở vùng Quế Dương (nay thuộc tỉnh Bắc Ninh), ở trong một nhà trọ. Một hôm, vào khoảng quá canh một, Lê Ngộ thấy Dĩ Thành cưỡi ngựa thanh song, cùng nhiều kẻ hầu người hạ rộn rịp tới chơi. Sau khi hàn huyên, Dĩ Thành báo cho Lê Ngộ biết sắp tới sẽ có nạn ôn dịch lớn, người chết rất nhiều, rồi bày cho Lê Ngộ cách tránh khỏi tai ách ấy. Sự việc về sau xảy ra đúng như thế. Lê Ngộ theo cách của Dĩ Thành bày cho nên người họ Lê đều thoát cả. Lê Ngộ cảm ơn ân đức của Dĩ Thành bèn lập miếu thờ. Người làng tới kêu cầu cũng thường ứng nghiệm.

Đó là sơ lược thân thế Văn Dĩ Thành theo Truyền kỳ mạn lục. Ngoài ra, cũng có thông tin khác như sau:

Tích xưa kể rằng, Chèo Tàu ra đời để tưởng nhớ Hai Bà Trưng hoặc diễn chào hội quân giữa Lý Phật Tử và Triệu Quang Phục. Nhưng có một giả thiết được người dân chấp nhận hơn đó là nghiên cứu của Trung tá Đào Văn Hà, nguyên công an Thành phố Hà nội, thành viên Ban chấp hành Hội văn nghệ tỉnh Hà Tây trước khi Hà Tây sáp nhập vào Hà nội.

Ông Hà trích nguồn từ cuốn “Cối lâm tiểu dẫn” bằng chữ Nôm viết năm 1902 của đại phu triều Nguyễn là Nguyễn Duy Lương, cho thấy nguồn gốc của hát Chèo Tàu có liên quan đến một cuộc khởi nghĩa chưa từng ghi chép trong chính sử. Đó là cuộc khởi nghĩa Hắc Y chống quân Minh do Văn Dĩ Thành làm chủ tướng. Sau 267 năm Văn Dĩ Thành hy sinh, hội hát Chèo Tàu lần đầu tiên mở ra vào năm Nhâm Tuất (1683).

Theo ông Hà, đức thánh Văn Dĩ Thành là dòng tộc của nhiều vị tướng của dân tộc Việt Nam, như Đại nguyên suý Hoa Duy Thành, tướng công Phạm Ngũ Lão và hậu duệ sau này là Đại tướng Văn Tiến Dũng; nhưng rất tiếc chiến công 10 năm đánh giặc Minh của Đại suý Văn Dĩ Thành chưa được ghi trong chính sử Việt Nam. Ông Hà mong mỏi các nhà sử học Việt Nam nghiên cứu để bổ sung cho lịch sử chống giặc ngoại xâm của những vị tướng Hà Nội.

Không biết thực hư như thế nào, cứ chép vào đây để thấy một cách nhìn mới về thân thế sự nghiệp ông.

Trần Ngọc Thêm (1952), Tiến sỹ Ngữ Học (ĐH St. Petersburg, Nga), Viện sĩ của Viện Hàn Lâm Khoa Học Tự Nhiên Nga. Giáo sư Văn Hoá Học, Đại Học Quốc Gia TP HCM.

Từng giảng dạy ở Đại học Hà Nội. Hiện là Trưởng khoa Văn Hóa Học, ĐHKHXHNV, Đại Học Quốc Gia TP HCM.

Trần Ngọc Thêm làm việc trong hai lĩnh vực ngôn ngữ học và văn hóa học, là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về ngữ học và văn hóa Việt. Tác phẩm của ông được dùng để giảng dạy trong nhiều giảng đường ở Việt Nam. Ông thuộc số rất ít học giả trong nước được cộng đồng Việt kiều trí thức chú ý đến.

Tác phẩm tiêu biểu: (1) Cơ Sở Văn Hóa Việt Nam, (2) Tìm Về Bản sắc Văn Hóa Việt Nam. Tìm về Bản sắc Văn hóa Việt nam là một tập sách được giới nghiên cứu văn hóa Việt rất trân trọng. Tập sách đã được tái bản nhiều lần. Bản dịch tiếng Pháp đã xuất bản năm 2001.

Nguyễn Khắc Thuần, nhà giáo, hiện đã nghỉ hưu. Được biết đến với nhiều tác phẩm khảo cứu trên nhiều lĩnh vực như: sử học, văn hóa học, văn học cổ, ngôn ngữ cổ, dịch thuật Hán cổ, phiên âm và chú giải chữ Nôm. Số đầu sách đã xuất bản của ông là gần 300 cuốn, được tái bản nhiều lần.

Có thể kể tên một số tác phẩm của ông như: (1) sách khảo cứu văn học và ngôn ngữ học: Phan Văn Trị cuộc đời và tác phẩm, Từ ngữ thơ văn Nguyễn Đình Chiểu, Từ điển truyện Lục Vân Tiên; (2) giáo trình sử học: Đại cương lịch sử cổ trung đại Việt Nam, Nước Đại Việt thời Lý Trần; (3) sách khảo cứu chuyên sâu sử học: Danh tướng Việt Nam, Trần Hưng Đạo: Tiểu sử – sự nghiệp – tác phẩm, Chiến thắng Rạch Gầm – Xoài Mút; (4) sách khảo cứu văn hóa: bộ Đại cương lịch sử văn hóa Việt Nam (5 tập), Tiến trình văn hóa Việt Nam từ khởi thủy đến thế kỷ XIX dày trên 1.000 trang khổ lớn; (5) sách phổ biến kiến thức phổ thông: Việt sử giai thoại (8 tập), Trông lại ngàn xưa (3 tập), Giai thoại dã sử Việt Nam (4 tập).

Ông cũng quan tâm phiên âm và chú giải chữ Nôm, dịch thuật và hiệu đính thư tịch Hán cổ. Tác phẩm được nhiều người hoan nghênh nhất là Đại Nam quốc sử diễn ca – áng sử thi gồm 2.054 câu thơ lục bát được ông chú giải rất công phu. Về chữ Hán, ông đã phiên dịch và cho in cuốn Mạc Thị gia phả – là một tài liệu rất quý mà những ai muốn hiểu về Nam bộ đều cần phải đọc. Công trình dịch, chú thích chữ Hán lớn nhất của ông là Lê Quý Đôn tuyển tập (8 tập, dày trên 5.000 trang), dịch từ nguyên tác Hán văn của Lê Quý Đôn và được chú giải rất công phu để cho mọi người đều có thể hiểu được. Đây là công trình có dấu ấn mạnh mẽ, sâu sắc, khẳng định được sở trường của ông.

Nguyễn Tài Thư (12/05/1935) Giáo sư Tiến sĩ Triết học, làm việc tại Viện Triết học (Hà Nội). Quê xã Đông Hòa, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Các tài liệu đã xuất bản: (1) Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt nam hiện nay: Chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước KX-07. Đề tài: KX-07-03, NXB Chính trị quốc gia, 1997;  (2) Lịch sử tư tưởng Việt nam. T.1 / Viện Khoa học xã hội Việt nam. Viện Triết học, Nguyễn Tài Thư chủ biên [et al], NXB Khoa học xã hội, 1995;  (3) Lịch sử tư tưởng ViệtNam. T. 1 / Viện khoa học xã hội ViệtNam. Viện Triết học ; Nguyễn Tài Thư chủ biên,..[et al.]  Hà Văn Tấn, Nguyễn Đức Sự, Nguyễn Tài Thư, chủ biên Phan Đại Doãn, NXB  Khoa học xã hội, 1995;  (4) Lịch sử tư tưởng Việt nam, T1, Tư tưởng Việt nam từ đầu công nguyên đến cuối thời Lý: Văn tuyển / Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia. Viện Triết học; Nguyễn Tài Thư chủ biên [et al], NXB Chính trị quốc gia, 2002;  (5) Nho giáo và Nho giáo ở Việt nam – Góc nhìn tín ngưỡng và vai trò lịch sử (Những đặc điểm cơ bản của một số tôn giáo lớn ở Việt Nam, Nguyễn Đức Lữ (chủ biên), Nhà xuất bản Tôn giáo, 2007);  (6) Đạo giáo Việt nam – Nguồn gốc, đặc trưng và vai trò xã hội (Những đặc điểm cơ bản của một số tôn giáo lớn ở Việt Nam, Nguyễn Đức Lữ (chủ biên), Nhà xuất bản Tôn giáo, 2007)

Lê Phụ Trần tức Lê Tần, tướng đời Trần Thái Tông (Trần Cảnh), nổi tiếng với công hộ giá nhà vua trong cuộc chiến chống quân Nguyên lần thứ nhất (1257-1258). Vì vậy được vua ban tên là Lê Phụ Trần.

Chu Mạnh Trinh (1862-1905), tên tự là Cán Thần, hiệu Trúc Vân, người làng Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên. Cha ông là Chu Duy Tĩnh làm quan đến chức Ngự sử. Chu Mạnh Trinh nổi tiếng thông minh. Khi 19 tuổi lều chõng đi thi, đỗ tú tài. Đến 25 tuổi khoa thi Bính Tuất (1885) ông đỗ khoa thi Hương (giải nguyên). Khoa thi Hội năm Nhâm Thìn (1892), ông đậu tiến sĩ. Sau khi thi đỗ tam giáp tiến sỹ khoa Nhâm Thìn (đời Thành Thái thứ tư) Chu Mạnh Trinh được bổ làm tri phủ Lý Nhân, tỉnh Hà Nam. Ông rất công minh chính trực. Có lần ông đã phạt đánh roi một tu sĩ người Pháp có hành động cậy thế lộng hành. Làm tri phủ ít lâu thì thân phụ ông mất, Chu Mạnh Trinh xin cáo quan về cư tang. Sau đó, ông được giao chức án sát tỉnh Hà Nam, Hưng Yên, Bắc Ninh, Thái Nguyên. Chu Mạnh Trinh là một người đa tài. Ngoài tài thơ, ông còn là một nhà kiến trúc. Ngôi đền Đa Hòa ở quê ông chính là do ông thiết kế, và đứng ra vận động xây dựng. Chu Mạnh Trinh cũng là người thiết kế chùa Thiên Trù (chùa Trò) ở khu danh thắng Hương Tích.

Nguyễn Thì Trung, quê xã Bối Khê, huyện Thanh Oai, người đời Hồ, sau làm quan đời Lê Thái Tông.

Nguyễn Trực (1417-1474) tên chữ là Công Dĩnh, hiệu là Hu Liêu, người làng Bối Khê, huyện Ứng Thiên, trấn Sơn Nam (nay thuộc huyện Thanh Oai, Hà Đông). Sinh ngày 16 tháng 5 năm Đinh Dậu (1417). Tám tuổi đi học, 12 tuổi đã biết làm thơ, 18 tuổi đỗ khoa thi Hương năm Thiệu Bình 1, 26 tuổi đỗ Trạng nguyên khoa Đại Bảo 3 (1442), làm quan Quốc Tử Giám Thị thư v.v… Đỗ Trạng nguyên khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442), đời Lê Thái Tông.

Năm Thái Hòa thứ 2 (1442) ông nhận chức Chiêu nghị đại phu, Hàn lâm viện trực học sĩ, Vũ kị đô uý, làm An phủ sứ đi kinh lý vùng Nam Sách.

Năm 1444, Nguyễn Trực cầm đầu một sứ bộ sang sứ nhà Minh cùng với phó sứ Trịnh Thiết Tràng. Giữa triều đình phương Bắc, Nguyễn Trực đã hoàn thành sứ mệnh bằng kiến thức uyên bác, tài ứng đối nhạy bén, sắc sảo, sự vững vàng cứng cỏi và trên hết là ý thức tự hào dân tộc rất chính đáng của mình, khiến vua tôi nhà Minh phải kiêng nể. Năm 1457 viên sứ thần nhà Minh là Hoàng Gián sang ta. Lê Nhân Tông đã triệu Nguyễn Trực về triều để tiếp sứ Tàu. Hoàng Gián vặn vẹo đủ điều, nhưng điều nào cũng được Nguyễn Trực giảng giải phân minh, khiến cho vị “thiên sứ” nọ phải thán phục thốt lên “Quốc hữu nhân tài” (nước (Việt) có người tài).

Có một giai thoại kể rằng, chuyến đi sứ năm 1444, gặp đúng kỳ thi Hội của triều đình nhà Minh. Nguyễn Trực và Bảng nhãn Thiết Tràng cũng được mời dự thi cùng với sứ thần các nước khác. Khi công bố kết quả, thì Nguyễn Trực đỗ trạng nguyên và Trịnh Thiết Tràng đỗ Bãng nhãn. Nguyễn Trực được vua Minh phong làm Lưỡng quốc trạng nguyên và được ban tặng cẩm bào…

Theo ghi chép của nhiều tài liệu, Nguyễn Trực còn là một nhà kiến trúc có tài. Năm 1457, ông được giao trách nhiệm trông coi việc xây dựng chùa Thiên Phúc ở núi Phật Tích (chùa Thày), một công trình văn hóa nổi tiếng thời đó.

Khi vua Lê Nhân Tông mất, ông cáo bệnh về hưu.

Về xuất thân của Nguyễn Trực, có một số thông tin khác nhau. Có thông tin nói cha ông là Nguyễn Thì Trung, người làng Bối Khê (Thanh Oai), mẹ là Đỗ Thị Chứng, người làng An Sơn (khu vực chùa Thày), hoặc bà họ Đỗ, người làng Nghĩa Bang (hoặc Nghĩa Hương, Quốc Oai); ông sinh tại am Long Đẩu (núi Phật Tích – núi Thày), hoặc am Phật Tích (núi Thày), thuở nhỏ sinh sống tại khu vực chùa Thày. Có thông nói ông không phải con của Nguyễn Thì Trung. Không rõ thực hư thế nào, đành chép vào đây để nghiên cứu thêm.

Khổng Tử, tên thật là Khâu, tự là Trọng Ni, sinh ngày 27 tháng 8 năm 551 trước công nguyên, vào thời Xuân Thu (Trung Quốc), tại ấp Trâu, làng Xương Bình, nước Lỗ (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc). Nhiều sử sách ghi rằng ông sinh trong một gia cảnh nghèo, nhưng thực tế gia đình ông có ông tổ ba đời vốn thuộc dòng quí tộc sa sút từ nước Tống dời đến nước Lỗ. Cha của Khổng Khâu, Thúc Lương Ngột (cháu 13 đời của Vi Tử Diễn, anh của vua Trụ nhà Thương) là quan võ thuộc ấp Trâu, đến 70 tuổi mới lấy Nhan thị mà sinh ra ông. Năm lên ba, Khâu mồ côi cha, lớn lên, phải làm lụng vất vả để nuôi mẹ, nhưng rất ham học. Năm 19 tuổi, ông lấy vợ và làm một chức quan nhỏ coi kho. Năm 22 tuổi, ông mở lớp dạy học. Học trò gọi ông là Khổng Phu Tử, hay gọi gọn hơn là Khổng Tử.

Trong suốt gần 20 năm, từ năm 34 tuổi, Khổng Tử dẫn học trò đi khắp các nước trong vùng để truyền bá tư tưởng và tìm người dùng các tư tưởng đó. Có nơi ông được trọng dụng nhưng cũng có nơi ông bị coi thường. Năm 51 tuổi, ông quay lại nước Lỗ và được giao coi thành Trung Đô, năm sau được thăng chức Đại tư khấu (coi việc hình pháp), kiêm quyền tể tướng. Sau ba tháng, nước Lỗ trở nên thịnh trị. Nhưng rồi bị ly gián, dèm pha, ông bèn từ chức và lại ra đi một lần nữa.

Năm 68 tuổi, Khổng Tử trở về nước Lỗ, tiếp tục dạy học và bắt tay vào soạn sách. Trong những năm cuối cùng này ông đã soạn ra bộ Ngũ Kinh. Ông mất tháng 4 năm 479 trước công nguyên, thọ 73 tuổi.

Ở thời Tống, học giả Chu Hi đã thêm các ý tưởng từ Đạo giáo và Phật giáo vào Khổng giáo. Trong suốt cuộc đời mình, Chu Hi không được mọi người biết tới, nhưng không lâu sau khi ông mất, những ý tưởng đó trở thành một quan điểm chính thống mới về những ý nghĩa thực sự của tư tưởng Khổng Tử. Các nhà sử học hiện đại coi Chu Hi là người đã tạo ra một thứ gì đó khác biệt và gọi tư tưởng của ông là Tân Khổng giáo.

Trần Quốc Vượng, giáo sư sử học, sinh ngày 12/12/1934 tại Hải Dương. Ông tốt nghiệp thủ khoa Cử nhân Sử – Địa Trường Đại học Văn khoa Hà Nội năm 1956 và được giữ lại làm cán bộ giảng dạy Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1960, ông phiên dịch và chú giải Việt sử lược – bộ sách lịch sử vào loại xưa nhất do người Việt Nam viết còn lưu truyền được đến ngày nay và cho tái bản vào giữa tháng 9 năm 2005; năm 1973 chủ biên bộ Danh nhân Hà Nội, 2 tập; năm 1975 ông viết Hà Nội ngàn xưa; năm 1976 viết Mùa xuân và phong tục Việt Nam. Ông còn biên soạn các sách giáo khoa: Cơ sở Khảo cổ học, Cơ sở Văn hóa học, Lịch sử Việt Nam và một số sách chuyên môn như: Theo dòng lịch sử (1995); Việt Nam, cái nhìn địa văn hóa (1998); Văn hóa Việt Nam tìm tòi và suy ngẫm (2000).

Năm 1980, ông được phong hàm Giáo sư. Ông đã đảm nhiệm nhiều chức vụ: Chủ nhiệm bộ môn Khảo cổ học, Giám đốc Trung tâm Liên văn hóa Đại học Tổng hợp Hà Nội; Trưởng môn Văn hóa học, Đại học Quốc gia Hà Nội. Đồng thời từ năm 1989, Giáo sư Trần Quốc Vượng đảm nhiệm chức vụ Phó Tổng thư kí Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam, Phó Chủ nhiệm CLB Nghề truyền thống Việt Nam, Tổng thư kí Hội Văn nghệ dân gian Hà Nội từ năm 1976. Ông còn là Chủ tịch đầu tiên của Hội Sử học Hà Nội.

Mất ngày 8/8/2005.

Holmes Welch (1921-1981), là người có nhiều nỗ lực nghiên cứu đạo Lão ở Mỹ. Ông đậu cử nhân (1942) và thạc sĩ (1956), làm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Đông Á (the Research Center of the East Asia) và là Phó chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Tôn giáo Thế giới (the Research Center of World Religions) tại Đại học Harvard (Mỹ).

 

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s