Trước tác đặc sắc

1.  Thơ giáng bút của Quan Thánh Đế

Phiên âm:
Trung đồng nhật nguyệt, nghĩa đồng thiên
Đại Hán anh hùng thượng lẫm nhiên
Nhất phiến đơn đao chung cổ bạch
Ngũ canh hồng chúc thốn tâm nhiên.
Phục ma hiển ứng, phi thiên cổ
Chính khí trường lưu bất vạn niên
Nam Bắc giáo thanh vô giới hạn
Tâm thành tất dã đổ chân tiên.
Dịch:
Nghĩa trung lòng ấy ngang trời đất
Đại Hán anh hung thật lẫm nhiên
Một ngọn đao, sáng ngời muôn thuở
Một lòng son, đuốc đỏ năm canh.
Hiển linh trừ quái ngàn đời hiếm
Chính khí trường lưu suốt vạn niên
Lời dạy mãi truyền Nam đến Bắc
Lòng thành ắt hẳn giống Thần Tiên.
(Trích từ Kinh Đạo Nam)
 

2.  Thơ giáng bút của Chu Thương

Bài 1:
Phảng phất hồn trung trải bấy nay
Long đao ngang dọc múa luôn tay
Theo đòi chẳng quản trời Nam Bắc
Sống chết nào quên nghĩa tớ thầy
Căm kẻ gian hung gan vẫn tím
Nếm mùi chính khí lưỡi còn cay
Nay vâng đế mệnh đưa thư xuống
Vừa ở Sòng Sơn ([1]) mới đến đây.
(Trích từ Kinh Đạo Nam)
Bài 2:
Phiên âm:
Xích thố truy tùy lịch hiểm gian
Y nhiên nghĩa đảm dữ trung can
Tam phân Hán đỉnh thiên hà phụ
Bách chiến giang san cục dĩ tàn.
Hách hách linh hồn thiên cổ tại
Nguy nguy chính khí ức niên gian
Long đao nhật dạ vô ly thủ
Xích thố truy tùy lịch hiểm gian.
Dịch nghĩa:
Cùng Xích thố trải nhiều nguy hiểm
Vẫn nguyên mật nghĩa với gan trung
Nhà Hán chia ba, lo hồi phục
Chiến trường trăm trận, mới tạm yên.
Linh hồn hiển hách, ngàn năm mãi
Chính khí ngời ngời, ức vạn niên
Thanh đao nhật dạ tay cầm chắc
Xích thố theo cùng trải truân chuyên
(Trích từ Kinh Đạo Nam)
 

3.  Bài “Dụ chư tỳ tướng hịch văn” của Hưng Đạo Đại Vương

Bản dịch quốc ngữ: (Người dịch: Ngô Tất Tố) 

Ta thường nghe:
Kỷ Tín đem mình chết thay, cứu thoát cho Cao Đế;
Do Vu chìa lưng chịu giáo, che chở cho Chiêu Vương;
Dự Nhượng nuốt than, báo thù cho chủ;
Thân Khoái chặt tay để cứu nạn cho nước.
Kính Đức một chàng tuổi trẻ, thân phò Thái Tông thoát khỏi vòng vây Thái Sung;
Cảo Khanh một bầy tôi xa, miệng mắng Lộc Sơn, không theo mưu kế nghịch tặc.
Từ xưa các bậc trung thần nghĩa sĩ, bỏ mình vì nước, đời nào chẳng có ?
Ví thử mấy người đó cứ khư khư theo thói nhi nữ thường tình
Thì cũng đến chết hoài ở xó cửa, sao có thể lưu danh sử sách
Cùng trời đất muôn đời bất hủ được ?

Các ngươi
Vốn dòng võ tướng, không hiểu văn nghĩa,
Nghe những chuyện ấy nửa tin nửa ngờ.
Thôi việc đời trước hẵng tạm không bàn.
Nay ta lấy chuyện Tống, Nguyên mà nói:
Vương Công Kiên là người thế nào ?
Nguyễn Văn Lập, tỳ tướng của ông lại là người thế nào ?
Vậy mà đem thành Điếu Ngư nhỏ tày cái đấu
Đương đầu với quân Mông Kha đường đường trăm vạn,
Khiến cho sinh linh nhà Tống đến nay còn đội ơn sâu!
Cốt Đãi Ngột Lang là người thế nào ?
Xích Tu Tư tỳ tướng của ông lại là người thế nào ?
Vậy mà xông vào chốn lam chướng xa xôi muôn dặm đánh quỵ quân Nam Chiếu trong khoảng vài tuần,
Khiến cho quân trưởng người Thát đến nay còn lưu tiếng tốt!
Huống chi, ta cùng các ngươi sinh ra phải thời loạn lạc,
Lớn lên gặp buổi gian nan.
Lén nhìn sứ ngụy đi lại nghênh ngang ngoài đường,
Uốn tấc lưỡi cú diều mà lăng nhục triều đình;
Đem tấm thân dê chó mà khinh rẻ tổ phụ.
Ỷ mệnh Hốt Tất Liệt mà đòi ngọc lụa để phụng sự lòng tham khôn cùng;
Khoác hiệu Vân Nam Vương mà hạch bạc vàng, để vét kiệt của kho có hạn.
Thật khác nào đem thịt ném cho hổ đói, tránh sao khỏi tai họa về sau.

Ta thường
Tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối,
Ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa;
Chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù;
Dẫu cho
Trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ,
Nghìn thây ta bọc trong da ngựa,
Cũng nguyện xin làm.

Các ngươi
Ở lâu dưới trướng, nắm giữ binh quyền,
Không có mặc thì ta cho áo;
Không có ăn thì ta cho cơm.
Quan thấp thì ta thăng tước;
Lộc ít thì ta cấp lương.
Đi thủy thì ta cho thuyền; đi bộ thì ta cho ngựa.
Lâm trận mạc thì cùng nhau sống chết;
Được nhàn hạ thì cùng nhau vui cười.
So với Công Kiên đãi kẻ tỳ tướng, Ngột Lang đãi người phụ tá, nào có kém gì?

Nay các ngươi
Ngồi nhìn chủ nhục mà không biết lo;
Thân chịu quốc sỉ mà không biết thẹn.
Làm tướng triều đình đứng hầu quân man mà không biết tức;
Nghe nhạc thái thường đãi yến sứ ngụy mà không biết căm.
Có kẻ lấy việc chọi gà làm vui; có kẻ lấy việc cờ bạc làm thích.
Có kẻ chăm lo vườn ruộng để cung phụng gia đình;
Có kẻ quyến luyến vợ con để thỏa lòng vị kỷ.
Có kẻ tính đường sản nghiệp mà quên việc nước;
Có kẻ ham trò săn bắn mà trễ việc quân.
Có kẻ thích rượu ngon; có kẻ mê giọng nhảm.
Nếu bất chợt có giặc Mông Thát tràn sang
Thì cựa gà trống không đủ đâm thủng áo giáp của giặc;
Mẹo cờ bạc không đủ thi hành mưu lược nhà binh.
Vườn ruộng nhiều không chuộc nổi tấm thân ngàn vàng;
Vợ con bận không ích gì cho việc quân quốc.
Tiền của dẫu lắm không mua được đầu giặc;
Chó săn tuy hay không đuổi được quân thù.
Chén rượu ngọt ngon không làm giặc say chết;
Giọng hát réo rắt không làm giặc điếc tai.
Lúc bấy giờ chúa tôi nhà ta đều bị bắt, đau xót biết chừng nào!
Chẳng những thái ấp của ta không còn
Mà bổng lộc các ngươi cũng thuộc về tay kẻ khác;
Chẳng những gia quyến của ta bị đuổi
Mà vợ con các ngươi cũng bị kẻ khác bắt đi;
Chẳng những xã tắc tổ tông ta bị kẻ khác giày xéo
Mà phần mộ cha ông các ngươi cũng bị kẻ khác bới đào;
Chẳng những thân ta kiếp này chịu nhục đến trăm năm sau tiếng nhơ khôn rửa, tên xấu còn lưu,
Mà gia thanh các ngươi cũng không khỏi mang danh là tướng bại trận.
Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi muốn vui chơi thỏa thích,
Phỏng có được chăng ?

Nay ta bảo thật các ngươi:
Nên lấy việc “đặt mồi lửa dưới đống củi nỏ” làm nguy;
Nên lấy điều “kiềng canh nóng mà thổi rau nguội” làm sợ.
Phải huấn luyện quân sĩ, tập dượt cung tên,
Khiến cho
Ai nấy đều giỏi như Bàng Mông,
Nọi người đều tài như Hậu Nghệ,
Có thể bêu đầu Hốt Tất Liệt dưới cửa khuyết,
Làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai.
Như thế chẳng những thái ấp của ta mãi mãi vững bền
Mà bổng lộc các ngươi cũng suốt đời tận hưởng;
Chẳng những gia thuộc ta được ấm êm giường nệm,
Mà vợ con các ngươi cũng trăm tuổi sum vầy;
Chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu
Mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng;
Chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí,
Mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm;
Chẳng những thụy hiệu ta không hề mai một,
Mà tên họ các ngươi cũng sử sách lưu truyền.
Lúc bấy giờ, dẫu các ngươi không muốn vui chơi,
Phỏng có được không ?

Nay ta chọn lọc binh pháp các nhà hợp thành một tuyển, gọi là Binh Thư Yếu Lược.
Nếu các ngươi
Biết chuyên tập sách này, theo lời ta dạy bảo, thì trọn đời là thần tử;
Nhược bằng khinh bỏ sách này, trái lời ta dạy bảo thì trọn đời là nghịch thù.

Vì sao vậy ?
Giặc Mông Thát với ta là kẻ thù không đội trời chung,
Mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn rửa nhục, không lo trừ hung, lại không dạy quân sĩ,
Chẳng khác nào quay mũi giáo mà xin đầu hàng, giơ tay không mà chịu thua giặc.
Nếu vậy, rồi đây, sau khi dẹp yên nghịch tặc,
Để thẹn muôn đời, há còn mặt mũi nào đứng trong cõi trời che đất chở này nữa 
Cho nên ta viết bài hịch này để các ngươi hiểu rõ bụng ta.

4.  Thơ tán Hưng Đạo  Đại Vương

Bài 1:
Bậc thần thánh danh cao trong cõi,
Một chữ trung thọ với giang san.
Tài kiêm Gia Cát, Phần Dương,
Chẳng qua trong tấm cương thường suy ra.
Cõi Nam tự Đông A về trước,
Biết bao người dẹp nước yên dân.
Song mà kiển kiển vương thần,
Muôn người có một đức Trần Thái sư.
Vốn dòng dõi kim chi ngọc diệp,
Đủ kinh luân khang thế tài cao.
Sơ sinh điềm ứng chiêm bao,
Thanh y giáng thế trời trao anh hùng.
Chí da ngựa, tinh thông thao lược,
Khoác áo rồng bỉ chước Trần kiều.
Gặp cơn quốc bộ hiểm nghèo,
Khăng khăng vẫn giữ một điều tận trung.
Kìa giặc Đát đuổi rong vó ngựa,
Trải ba phen đạp vỡ trùng quan.
Buồn khi chim gáy hoa tàn,
Phất phơ cờ thúy mấy ngàn rừng thông.
Có kẻ giở ra lòng Vệ Luật,
Có người xoay ra mặt Bang Xương.
Giời Nam còn có chủ trương.
Nhị tâm đã thấy những đường bạc đen.
Đang khi ấy cầm quyền thống ngự,
Một Thái sư gìn giữ phong cương.
Ví mà bắt chước Kính Đường,
Bắc vương đã chấp, Nam vương khó gì
Ghét những chuyện thừa nguy mãi quốc,
Gác ngoài tai những chước hàng Nguyên.
Đầu còn thì dạ vẫn bền,
Dạ này Sát Đát chữ in chưa lòa.
Mũi gậy rút, rõ ta vô nhị.
Tờ hịch treo, khuyên kẻ đồng cừu.
Tức gan với đứa thiên kiêu,
Thì đem dạ sắt mà liều tay lang.
Khi chước đặt thượng giang phóng thiệt,
Khi kế bày binh trượng đại doanh.
Có khi dử giặc lui binh,
Giồng chông đáy nước để rình thuyền qua.
Chí địch khái, bóng tà kéo lại,
Người tiêm cừu, tay trái đều day.
Mấy phen rồng chọi tuyết bay,
Người đề cờ nghĩa, người bày trung mưu.
Người đan kỵ, nhảy xông cường trận,
Người chích thuyền, chèo sấn cuồng lan.
Ấy ai đánh vỡ thuyền lương
Ấy ai Hàm Tử, Chương Dương đua tài
Ngựa đá cũng bồ hôi chiến trận,
Nước triều cũng nổi giận ba đào.
Gió mây theo ngọn cờ đào,
Thần, nhân hiệp tán giặc nào chẳng tan.
Người Hoan nọ xa ngàn dặm trút,
Chàng Đô kia liều một thân tàn.
Cũng như Ô Mã, Sầm Đoàn,
Bá Linh, Cơ Ngọc vào đoàn tù dây.
Lặng gió ải cỏ cây lại tốt,
Đặt âu vàng non nước đều yên.
Ngẫm cơ liệu địch sang thiêng,
Ngày xưa hai chữ “tặc nhàn” không ngoa.
Quân ta mạnh chẳng qua nhẽ thẳng,
Việc nước xong bởi gắng lòng trinh.
Hiến phù dưới khuyết cáo thành,
Đền ân sơn hải chút tình quyên ai.
Trên thánh đế giáng bài ngọc dụ,
Chiếu đình thần làm sổ quân công.
Tùy công nhớn nhỏ gia phong,
Thái sư tên ở đầu dòng gác Yên.
Phong vương tước gia thêm chữ Đại,
Đền sinh từ ngự lại đề bia.
Thiên đình trích đã mãn kỳ,
Tạ từ sớ tấu đan trì một phong.
Đưa xe hạc gió trong giăng đạm,
Ngày hai mươi tháng tám giờ lành.
Muôn năm Vạn Kiếp miếu đình,
Độ dân là phật, hiển linh là thần.
Còn nhật nguyệt trung thành còn giãi,
Còn phong đình nghĩa khái còn vang.
Tuồng chi là giống Phạm Nhan,
Thác chưa biết xấu còn làm nhớp gươm.
Nào những lũ ma vương, lệ quỷ,
Nào những loài mộc súy, thạch tinh.
Liếc trông đã khiếp uy linh,
Lọ cây kiếm thụ, lọ hình đao san.
Cho biết đấng thần tiên xuất thế,
Khắp vùng trời chính khí hạo nhiên.
Ở đời giúp nước an biên,
Quy thần thì vẫn hiên nhiên như còn.
Tiếng khử bạo, gươm mòn vẫn sắc,
Uy trừ hung, chiếu rách còn thiêng.
Tinh trung ủng hộ Nam thiên,
Ắt là quốc thái dân yên đời đời.
(Trích từ cuốn Hưng Đạo Vương của Phan Kế Bính)
 
Bài 2: (Tán thán cảnh thần tiên của Hưng Đạo Đại Vương khi Ngài đã về trí sỹ)
Giời Nam riêng một cõi Doanh bồng
Sơn thủy thiên nhiên cảnh lạ lùng
Bắc Đẩu, Nam Tào chia tả hữu,
Huyền đăng trăm ngọn đá trông vông.
Mấy chòm cổ thụ bông sầm uất,
Một dãy cao phong thế trập trùng
Bãi nổi xè xè hình lưỡi kiếm,
Nước trong leo lẻo một dòng sông
Véo von vượn hót trên đầu núi
Lác đác hươu ăn dưới gốc thông
Ráng tỏa chiều hôm chim ríu rít
Mây tuôn ban sớm khói mịt mù.
Phong quang bốn mặt trông như vẽ,
Một tòa lâu đài cao sát không.
Rèm ngọc sáng quang mây núi bắc
Gác hoa bóng lộn sóng chiều đông
Đại vương khi nhàn rê trượng trúc,
Theo sau một vài gã tiểu đồng.
Khi đeo bầu rượu qua sườn núi,
Lúc dạo cung đàn bơi giữa dòng,
Thủng thỉnh cuộc cờ khi gió mát,
Ung dung ngâm vịnh lúc giăng trong.
Nghĩ mình thú hứng vui ngày sót
Ngắm cảnh giang sơn thỏa khúc lòng
Tuổi già, cảnh thú, công danh trọn
Than ôi! Đại vương thực anh hùng.
(Trích từ cuốn Hưng Đạo Vương của Phan Kế Bính)
Bài 3:
Trung hiếu lòng son tự tính thành,
Anh hùng ra sức chống giời xanh,
Gươm thần một lưỡi kinh hồn giặc
Ngựa đá nghìn thu vững cõi mình.
Đền Kiếp bia cao truyền sự nghiệp
Sông Đằng sóng cuốn hiển uy danh
Giời Nam hương hỏa còn ghi nhớ
Oanh liệt kia kìa dấu hiển linh.
(Trích từ cuốn Hưng Đạo Vương của Phan Kế Bính)
 

5.  Bài thơ “Thuật hoài” của Phạm Điện Súy Thượng Tướng Quân

Phiên âm:
Hoành sáo giang sơn cáp kỷ thu,
Tam quân tỳ hồ khí thôn ngưu.
Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.
 
Dịch:
Vung giáo non sông trải mấy thu
Ba quân tựa cọp nuốt trôi trâu.
Trai chưa trả nợ công danh được,
Còn thẹn khi nghe chuyện Vũ Hầu.
(Bản dịch của Trần Trọng Kim)
 

6.  Thơ tán Phạm Điện Súy Thượng Tướng Quân

Buổi giời đât xây nền thềm thái,
Trên thánh quân, dưới lại hiền thần.
Tao phùng long hổ phong vân,
Ngoài biên, trong nước kinh luân có người.
Hoàng Trần thủa thay giời ngự thế,
Vững âu vàng kế kế thừa thừa.
Võ công qua vượt nghìn xưa,
Sông Đằng tăm ngạc quét trừ sạch trong.
Thiên tử mới khoan lòng cán thực,
Thượng phụ vừa nghỉ sức ưng dương.
Cơ giời sâu sắc khôn lường,
Lại gây ngoại hoạn, để cường quân tâm.
Khói lang chợt âm thầm cửa ải,
Chiêm, Lào quen phong mại thói xưa.
Ấy ai chém tướng giật cờ
Nối thơm thượng phụ bấy giờ chưa ai.
Đời có loạn sinh tài dẹp loạn,
Sá chi bàn Lý Quảng, Á Phu.
Hải Dương này đất Đường Phù,
Địa hình ngũ mã, ngũ phù tú chung.
Mạch Văn Khúc hồi long cố tổ,
Cánh hữu sa bạch hổ chiển kỳ.
Đất thiêng sinh bậc anh kỳ,
Kén tài thượng tướng giời kia đã dành.
Gánh non sông, thu hoành đất sáo,
Thét hùm beo, khí tảo thiên quân.
Tài cao ngụ bốn câu thần
Tôn, Ngô, Lý, Đỗ võ văn gồm tài.
Mắt sô tốt biết ai quốc sỹ,
Mũi kim qua chạm vế Tô công.
Lặng ngồi chẳng chút động dong,
Mặc ai xe ngựa ruổi dong trên đường.
Đấng Thượng phụ có gương Đức Tháo,
Coi tướng người dung mạo hiên ngang.
Hỏi ra tài học phi thường,
Đã thông kinh sử, lại tường lược thao.
Dinh Vạn Kiếp áo trao Hàn Tử,
Lối Thượng Hồng xe ngựa Tề Khương.
Quán sanh êm khúc loan hoàng,
Trong quân Nương tử chủ trương có người.
Lượng sương hải yêu tài bảo chướng,
Cửa tử vân kén tướng can thành.
Tự khi đánh phá Nguyên binh,
Lĩnh quân Dực thánh tuần hành nam cương.
Y kỷ luật, cờ giương trống gióng,
Chỉnh uy dung, đai rộng cừu khinh.
Tràng An thiên tử tri danh,
Trao tướng ấn, tới biên thành đổng binh.
Hộ thánh giá thân chinh Lao khấu,
Cứu thân vương phá thấu trùng vi.
Trúc can lẫm liệt ra uy,
Dư muôn tuần tượng xô về một tay.
Cờ đại tướng tuyết bay sao ruổi,
Sông Tràng Long kình nổi sóng êm.
Tiệp thư hai thứ dâng lên,
Cố cương đem lại thốn kim sơn hà.
Chiếu ngọc bệ khen tay kham bát,
Trải ba triều gánh vác gian lao.
Năm lần phù ấn vinh bao,
Tiến phong Điện Súy, dự vào sủng chương.
(Trích từ cuốn Hưng Đạo Vương của Phan Kế Bính)
 

7.  Một số bài thơ vịnh chợ Trời – Sài Sơn

Bài 1(1):
Dạo cảnh lên qua đỉnh chợ trời
Mua trời quả núi để về chơi.
Của kho tạo vật là bao vạn
Cân giá Thiên bình(2) đáng mấy mươi.
Mây nước bày hàng mười sáu ngọn
Gió giăng mặc cả một đôi lời.
Đem về nay dẫu không văn tự.
Đã có thiên thư(3) nắm vững rồi.
 
Bài 2:
Mua danh bán lợi ngán cho đời
Để vắng bao lâu cảnh chợ trời.
Vầng đỏ(4) chiều đông chồi lá vỗ.
Gió vàng phiên trước cánh hoa rơi.
Đầu cầu ngưu nữ mây man mác
Hàng nước rồng tiên cuội khểnh khơi.
Nên nỗi thằng kia ăn cắp chợ.
Nếu không trời biết dễ mà chơi.
 
Bài 3(5):
Tung lên đình đám thấy kì đời
Núi của thầy mà chợ của trời.
Buổi nắng ô vàng(6) rung là rụng
Hôm trăng(7) cuội đã cắm hoa chơi.
Nông chờ thánh lịch lô xô đứng
Khách nhớ dì Tô(8) nhấp nhổm ngồi.
Đầu gánh giang sơn ai hỏi thuế
Cho này thăm giá một đôi lời.
 
Bài 4 (9):
Thấy non Sài Sơn có chợ Trời
Phen này ta thử, thử lên chơi.
Biết rằng phong cảnh còn như trước,
Hay đã tang thương biến đổi rồi.
Cảnh Phật non tiên chiều chợ vắng
Mua danh bán lợi của hàng ôi.
Tờ mây viết hỏi thăm thần núi.
Mưa gió phiên rồi chợ có vui.
 
Bài 5(10):
Tuổi này tính đốt chỉn(11) năm mươi
Thăm thú Sài Sơn mới ngỏ chơi.
Đá nhặt(12) kia in người hoá vật
Non cao nọ mở chợ lưng trời.
Đua chen xe ngựa muôn nghìn kẻ
Gánh vác giang sơn mấy mặt người.
Vách đá những ai đề chữ đó.
Hồn thơ ta cũng tiếc thương ai.
Chú thích:
(1)    Tác giả của bài 1 và bài 2 là: Cử nhân Hoàng Thúc Hội, người làng Yên Quyết, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Ông là người có tâm huyết sau khi thi đỗ Cử nhân, ông không ra làm quan mà lui về quê mở trường dạy học. Ông đặc biệt quan tâm đến Phật giáo, từng giúp Hoà thượng Như Tùng ở chùa Thầy khảo đính thư tịch.
(2)    Thiên bình: chiếc cân của trời, ý nói mọi việc trong xã hội đã được trời cân đo đúng mực, không sợ sai lệch.
(3)    Thiên thư: Sách nhà trời, ý nói: tác giả đã có cán cân công lý, không sợ ai lừa gạt.
(4)    Vầng đỏ: chỉ mặt trời.
(5)    Tác giả của bài thứ ba trong sách có lẽ là một tác giả ở tỉnh Hà Đông cũ, chưa rõ là ai?
(6)    Ô vàng: chỉ mặt trời lúc xế chiều.
(7)    Hôm trăng: chỉ mặt trời lúc chiều hôm
(8)    Dì Tô: có lẽ chỉ nàng Tô Thị ngóng chồng lúc xa vắng.
(9)    Tác giả của bài thứ 4 là: Hoàng Quý Thông, người làng Yên Quyết, huyện Từ Liêm Hà Nội, dưới đầu đề bài thơ còn ghi chú: “Hẹn ước lên chơi Sài Sơn, không được bèn tức cảnh làm thơ”.
(10)Tác giả bài thứ 5 là: Văn Lâm cư sĩ Trần Kinh Sơn.
(11)Chỉn: (từ cổ): chỉ có.
(12)Nhặt (từ cổ): may, nhiều. Ý nói: đá núi xếp liền nhau. Ở đây miêu tả dấu tích của thánh tổ Từ Đạo Hạnh.
Nguồn: Nguyễn Văn Bá, Đại học Văn hóa
Sưu tầm và đăng trên Thông báo Hán Nôm 1998
 Viện nghiên cứu Hán Nôm

8.  Bài thơ “Chơi Sài Sơn” của Nguyễn Thượng Hiền

Nét mây đá, ngất trời xanh một dải,
Đứng tiên sơn mà ngảnh lại chốn hồng trần (1):
Kìa thành quách, nọ nhân dân,
Bóng xe ngựa, mấy lần trông thấp thoáng.
Nhân hướng mộng trung tranh tướng tướng(2),
Ngã tòng bôi lý trịch càn khôn (2).
Bóng trăng soi vằng vặc chốn hoa nguyên,
Chừng Nhược thuỷ, Bồng sơn (3) đâu cũng thế.
Ngồi tính đốt hai mươi hai tuổi lẻ,
Thấy nghiêng trời, lệch bể đã nhiều phen.
Thoát chân ra, mà lánh bước chốn lâm tuyền,
Ngẫm trích tọa đã nên qua một kiếp.
Ba mươi sáu độn trời còn chưa khép,
Vẫy cung nhân bắc dịp để ta lên,
Hỡi xưa nào bạn Trích Tiên (4)!
 
Chú thích:
(1)     Đứng tiên sơn mà ngảnh lại chốn hồng trần: Đứng trên núi tiên mà nhìn lại cõi đời bụi bặm
(2)    Nhân hướng mộng trung tranh tướng tướng
Ngã tòng bôi lý trịch càn khôn
        Nghĩa là:
        Người đời hướng vào cõi mộng mà tranh ngôi quan cao
        Còn ta từ chén rượu mà quẳng trời đất đi
(3)     Nhược thủy – Bồng sơn: là nơi tiên ở
(4)     Trích Tiên: là tiên đày xuống trần, đây cũng là tên hiệu của Lý Bạch đời Đường tự đặt cho mình
 
Nguồn: Trung tâm UNESCO Ca trù,
thuộc Hiệp hội CLB UNESCO Việt nam
 

9.  Bốn bài thơ vịnh Chùa Thầy của Chu Thần Cao Bá Quát

(Buổi chiều đi chơi Sài Sơn, mưa tạnh, lên núi đề thơ vào vách núi, bốn bài)

 Bài 1
Bao núi bên sông tỏa khắp nơi
Núi này phong cảnh nhất phương Đoài
Đã mang ấn đến Kim môn ẩn
Còn sửa guốc tìm Ngọc cục chơi
Mưa phất vũng sen bông đỏ thắm
Chuông rền bóng xế tiếng buông rơi
Trần ngâm phanh áo nhìn xa thẳm
Những mến rừng thiền thú thảnh thơi.

Bài này nhắc đến chuyện “mang ấn”, tức là Cao ra làm quan (Giáo thụ Quốc Oai). Còn chuyện đánh sáp guốc lấy từ tích cổ Trung Quốc: Chuyện Nguyễn Phu, hiền giả đời Tấn, thích đi guốc, nói với khách đến chơi rằng chẳng biết còn phải dùng bao nhiêu đôi guốc nữa, ý nói phải đi nhiều; Cao hàm ý nói đời mình cũng còn phải thay đổi. Ngọc cục: Nơi Trương Đạo Lăng tu tiên đắc đạo; ý này nói Cao tuy mới đến nhưng đã yêu mến phong cảnh núi Sài, có rừng thiền thỏa thú thảnh thơi.

Bài 2

Hò hẹn non Tô lỡ mãi rồi
Trời Tây bầu nón chậm lên chơi
Tấm bia Cảnh Thống chùi rêu đọc
Dấu gót Từ Công gọi đuốc soi
Mây núi bốn bề vui ngắm nghía
Cuộc đời trăm tuổi mấy đầy vơi
Lênh đênh bước trước bàn chi nữa
Tay đỡ bông sen miệng mỉm cười.

Tác giả nhắc đến ngọn núi Tô Môn ở Hà Nam (Trung Quốc), đời Tấn có Tôn Đăng ẩn ở đó – so sánh với núi Sài mình đến. Từ Công: Từ Đạo Hạnh, cao tăng tu luyện và hóa ở núi Sài, còn dấu chân trong hang Thánh Hóa, thác sinh làm vua Lý Thần Tông. Cảnh Thống: Niên hiệu vua Lê Hiển Tông (1498-1504). Bài này có hai câu cuối rất hay, cho thấy một Cao tiên sinh từng trải việc đời, đã đến lúc tự biết mình, tự cười mình từng khốn khổ vì mắc vòng danh lợi: “Bình sinh lãng tích na trùng vấn/Thủ bả liên hoa tiếu tự tri” (Bước đường nay đây mai đó trước đây không cần nhắc lại nữa/Tay cầm bông hoa sen, mỉm cười, mình tự biết mình). Một Cao Bá Quát kiên định mà nhân bản.

Bài 3

Ông già thích kể chuyện quan Thượng
Khóm trúc làn ao dưỡng tuổi già
Bóng xế đem theo đời biến đổi
Dòng xuôi riêng chán cảnh vinh hoa
“Ba thôi” trong cuộc thân từng trải
“Sáu tựa” xem người mắt đã qua
Mệt mỏi dễ thành ưa phóng dật
Núi đây ta sẽ dựng ngôi nhà.

Quan Thượng được nói ở đây là Phan Huy Cần (1722-1789), quê Hà Tĩnh, đỗ Tiến sĩ năm 1754, làm quan đến Tham tụng; lúc già về ở Thụy Khê, Sài Sơn. Cụ là cha của Phan Huy Ích (1750-1822), Phan Huy Ôn (1755-1786) và Phan Huy Chú (1782-1840). Đến núi Sài, Cao tâm đắc với sự lựa chọn của cụ Cần. “Dòng xuôi riêng chán cảnh vinh hoa”…: lấy từ điển tích chỉ việc làm quan đang đắc ý như trên dòng chảy xiết mà dứt bỏ để về; trong đời cụ Cần có 3 lần thôi việc: 1 lần bị bãi chức và 2 lần về hưu. “6 tựa” (6 lẽ hư ảo): Tất cả việc trên đời đều như mộng, như ảo, như bọt nước, như cái bóng, như sương và như chớp – tất cả đều không bền vững, vậy mà có lúc mình đã đeo đuổi. Cao cũng muốn như cụ Cần: Từ bỏ danh lợi, về sống thanh thản giữa thiên nhiên.

      Bài 4.

Tham chơi đầu bạc hứng chưa nguôi
Chống gậy trèo cao rộng bước chơi
Bút cuốn khói mây mười sáu ngọn
Mắt thu non nước vạn trùng khơi
Am xưa hạc ốm nghe im tiếng
Rồng bướng giương vây dậy giữa đồi
Hãy tới chợ trời tung điệu sáo
Vòm trời cười hỏi mấy xa vời?

Bài dùng điển tích “hạc ốm”(Trung Quốc) nói rằng không phải ở thế gian này, người nào cũng hoàn toàn là người; người thật là người rất ít. Còn hình ảnh “Rồng bướng” (quai long) so sánh núi Sài như con rồng bướng giương vây đột khởi giữa đồng bằng. “Vòm trời” nói trong bài là dựa theo sách Phật nói ba cõi Phật có 28 vùng trời, đứng trên chợ Trời đỉnh núi Sài thì gần tới trời. Bài thơ thể hiện cái nhìn phóng khoáng và tầm tư tưởng lớn lao của danh sĩ Cao Bá Quát.

Nguồn: Đỗ Quốc Bảo
Đăng trên trang tin về
Quê hương và dòng họ Cao Bá Quát

([1])Đền Sòng Sơn được xây dựng vào thời Cảnh Hưng triều vua Lê Hiển Tông (1740- 1786) là nơi thờ Nữ Thần Vân Hương- Bà Chúa Liễu Hạnh hay Thánh mẫu Liễu Hạnh. Đền Sòng Sơn xưa thuộc trang Cổ Đam, Phú Dương, Phủ Tống,Thanh Hoá, nay thuộc phường Bắc Sơn, thị xã Bỉm Sơn, tỉnh Thanh Hoá. Từ Hà nội theo quốc lộ 1A vào Thanh Hóa, qua Dốc Xây, hết địa phận Ninh Bình đi tiếp 3 km là tới đền Sòng Sơn. Có một số nơi khác cũng có đền hay phủ lấy tên là Sòng Sơn, nhưng chính gốc đền Sòng Sơn là ở Thanh Hóa.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s